Hoạt động thi hành án (THA) có ý nghĩa quan trọng trong việc giữ gìn trật tự, kỷ cương pháp luật và tăng cường pháp chế XHCN, nhất là trong điều kiện hiện nay khi Đảng và Nhà nước ta chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
1. Những quan niệm về hoạt động THA
Trong quá trình nghiên cứu, soạn thảo, thẩm tra dự án Bộ luật thi hành án (BLTHA), vấn đề xác định tính chất của hoạt động THA cũng thu hút được nhiều sự quan tâm. Điều đáng lưu ý là trong dự án BLTHA trình Quốc hội cho ý kiến tại kỳ họp vừa qua, thì phạm vi điều chỉnh của dự án Bộ luật là rất rộng, điều chỉnh hầu hết các lĩnh vực THA: hình sự, dân sự, hành chính… Ngoài nội dung thi hành các bản án, quyết định của Toà án, phạm vi điều chỉnh của dự án Bộ luật này còn bao gồm việc thi hành các phán quyết của Trọng tài thương mại Việt Nam, các bản án, quyết định của Toà án nước ngoài đã được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam. Với phạm vi rộng, đa dạng này, việc xác định rõ tính chất của hoạt động THA nói chung để từ đó có cơ sở quy định một cách thống nhất, khoa học trong dự án Bộ luật (như về giải quyết khiếu nại, tố cáo về THA; về hoạt động kiểm sát của Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) trong từng lĩnh vực THA…) là một yêu cầu quan trọng, song cũng là vấn đề phức tạp xét cả về lý luận và thực tiễn.
Lâu nay, quan niệm về họat động THA thu hút được nhiều sự quan tâm và được nhìn nhận trên nhiều phương diện khác nhau:
Thứ nhất, có ý kiến cho rằng, nếu xét về những đặc điểm cơ bản của hoạt động THA, thì có thể coi đây là một giai đoạn tiếp nối và cũng là sau cùng của hoạt động tố tụng nói chung. Ngay trong hệ thống pháp luật hiện hành, họat động THA cũng đã được xác định thuộc phạm vi điều chỉnh trong các văn bản pháp luật về tố tụng. Ví dụ:
- Theo quy định tại Điều 1 Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) hiện hành: “BLTTHS quy định trình tự, thủ tục khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và THA hình sự;” BLTTHS còn có một phần riêng (Phần thứ năm) về “Thi hành bản án và quyết định của Toà án” bao gồm 5 chương, 17 điều quy định cụ thể về trình tự, thủ tục THA hình sự.
- Theo quy định tại Điều 1 Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) hiện hành, thì BLTTDS quy định những nguyên tắc cơ bản trong tố tụng dân sự; trình tự, thủ tục khởi kiện để Toà án giải quyết các vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động… và về THA dân sự. BLTTDS hiện hành cũng có một phần riêng (Phần thứ bảy) quy định về thi hành bản án, quyết định dân sự của Toà án…
Bên cạnh đó, loại ý kiến này cũng cho rằng, việc các cơ quan, tổ chức, đơn vị không phải là các cơ quan tiến hành tố tụng được giao những nhiệm vụ nhất định trong công tác THA không làm thay đổi về bản chất của họat động này; điều này cần được nhìn nhận dưới khía cạnh về sự phân công, phân nhiệm và phối hợp trong công tác THA; tương tự như việc các cơ quan Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm mặc dù không phải là các cơ quan tiến hành tố tụng nhưng pháp luật tố tụng vẫn quy định thẩm quyền của các cơ quan này trong việc thực hiện một số hoạt động điều tra. Hơn nữa, có thể nói THA không tách rời, mà gắn liền với họat động của các cơ quan tiến hành tố tụng. Trong THA hình sự, theo quy định của BLTTHS hiện hành, Toà án có nhiệm vụ ra quyết định THA hoặc uỷ thác THA (Điều 256), theo dõi việc THA (Điều 260), cho hoãn, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù (Điều 263), giảm hoặc miễn chấp hành hình phạt (Điều 269) v.v.. Có thể nói, đây là những thẩm quyền quan trọng trong công tác THA được giao cho Toà án đảm nhiệm.
Về kinh nghiệm quốc tế, đáng lưu ý là trong các đạo luật về tố tụng hình sự, về tố tụng dân sự của nhiều nước trên thế giới cũng đều có nội dung quy định về việc thi hành các bản án, quyết định của Toà án.
Thứ hai, có ý kiến cho rằng hoạt động THA là hoạt động hành chính hay hành chính - tư pháp; bởi vì căn cứ để THA chính là các bản án, quyết định của Toà án; cách thức, biện pháp THA đều tuân theo những trình tự, thủ tục do pháp luật quy định; cơ quan THA phải tác động trực tiếp tới đối tượng phải thi hành để họ tự giác thi hành hoặc áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành…[1]
Thứ ba, có ý kiến cho rằng, quan niệm THA là hoạt động tư pháp, THA là hoạt động hành chính hay hành chính - tư pháp đều có những hạt nhân hợp lý nhất định; tuy nhiên, đi sâu vào phân tích từng khía cạnh cụ thể của từng quan điểm thì cũng đều bộc lộ những mâu thuẫn không thể giải quyết được. Từ đó, ý kiến này cho rằng “cần phải xem xét THA như một hiện tượng phức tạp, có tính đặc thù, không nên tìm mọi cách giải thích, quy kết, cố đưa nó về một dạng hoạt động thuần tuý, coi đó hoặc là hoạt động hành chính hoặc là hoạt động tư pháp đơn thuần… Có thể khẳng định: THA như là hoạt động “bản lề” nối liền giữa hoạt động tư pháp và hoạt động hành chính. Chính điều này đã tạo nên tính chất phức tạp, đặc thù của THA, khiến cho THA có tính chất “lưỡng tính”, vừa mang tính chất của hoạt động tư pháp, vừa chịu sự tác động, chi phối mạnh mẽ của hoạt động quản lý hành chính.”[2]
Trong quá trình thẩm tra dự án BLTHA vừa qua, có ý kiến của thành viên Uỷ ban pháp luật cho rằng, trong dự án Bộ luật này chưa thể hiện rõ vấn đề rất cơ bản, đó là việc xác định rõ tính chất của hoạt động THA. Tương tự như các quan niệm nêu trên, các thành viên của Uỷ ban cũng chia sẻ vấn đề này từ những giác độ khác nhau, cụ thể là: THA là một giai đoạn tiếp theo của các giai đoạn tố tụng trước đó; THA là nhiệm vụ của cơ quan hành chính nhà nước; THA là họat động hành chính - tư pháp.
Có thể nói, những ý kiến, quan niệm trên đây về hoạt động THA là khá phong phú, đồng thời, qua đó cũng cho thấy tính chất phức tạp của hoạt động THA. Chúng tôi tán thành với ý kiến cho rằng, vấn đề nghiên cứu để xác định rõ tính chất của hoạt động THA là một vấn đề mang tính khoa học, cần tiếp tục được nghiên cứu, làm rõ. Tuy nhiên, trong hoạt động xây dựng pháp luật, việc né tránh, hay xác định mang tính “nước đôi” về vấn đề này, theo chúng tôi, ở một chừng mực nhất định chưa hẳn đã là một giải pháp hiệu quả. Điều đáng lưu ý là trong quá trình xây dựng các văn bản pháp luật như Bộ luật hình sự (BLHS), BLTTHS, BLTTDS, Luật tổ chức VKSND, Luật khiếu nại, tố cáo, Nghị quyết 388 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra... thì vấn đề trên đều được bàn đến, nhưng sau đó được “tạm gác lại” để chờ khi xây dựng dự án BLTHA sẽ làm rõ. Tuy nhiên, trong dự án BLTHA trình Quốc hội cho ý kiến tại kỳ họp vừa qua, vấn đề này có được nêu ra, nhưng phương án để xử lý về cơ bản lại chưa có sự bàn thảo. Cũng do chưa xác định rõ tính chất của hoạt động THA nên nhiều chế định trong dự thảo BLTHA đã bộc lộ những điểm bất hợp lý và chưa thống nhất. Chẳng hạn, tại điểm 6 Điều 16 của dự thảo Bộ luật này về nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Tư pháp trong quản lý nhà nước về THA có quy định thẩm quyền chung của Bộ Tư pháp trong việc “giải quyết khiếu nại, tố cáo về THA” Điều này có thể hợp lý trong lĩnh vực THA dân sự. Tuy nhiên, nếu xét trong lĩnh vực THA hình sự, thì điều này chưa thống nhất với quy định của Luật tổ chức VKSND hiện hành (điểm 3 Điều 27) đã giao cho VKSND tiếp nhận và giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực tố tụng hình sự. Bên cạnh đó, việc quy định cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo ở từng mảng công tác THA theo trình tự nào (theo Luật khiếu nại, tố cáo, hay theo trình tự riêng…) cũng là vấn đề phức tạp; nếu quan niệm hoạt động THA là mang tính “lưỡng tính”, thì việc phân định khi nào một loại hình công tác THA mang tính chất hành chính, khi nào mang tính chất là hoạt động tư pháp để từ đó có quy định về khiếu nại, tố cáo… cho hợp lý cũng là vấn đề không đơn giản.
Về quan niệm THA là hoạt động mang tính chất “lưỡng tính” và nhiệm vụ kiểm sát hoạt động tư pháp của VKSND: Trong các nghị quyết của Đảng gần đây đều xác định nhiệm vụ của VKSND là thực hiện chức năng công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp. Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 1992 (đã được sửa đổi, bổ sung) tại Điều 137 cũng ghi nhận chức năng, nhiệm vụ này của VKSND. Vấn đề đặt ra là, nếu chúng ta xác định THA mang tính chất “lưỡng tính”, vừa là hoạt động mang tính hành chính, vừa là hoạt động tư pháp thì điều này cũng có nghĩa và đòi hỏi là, trong trường hợp xác định những hoạt động THA mang tính hành chính, đương nhiên VKSND không có thẩm quyền thực hiện nhiệm vụ kiểm sát; VKSND chỉ có thẩm quyền kiểm sát đối với hoạt động THA mang tính chất hoạt động tư pháp. Thực tiễn đã có trường hợp khi cơ quan THA thực hiện bán đấu giá tài sản, VKSND thực hiện việc kiểm sát hoạt động đó, thì cơ quan THA cho rằng việc bán đấu giá tài sản của mình không phải là hoạt động tư pháp, cho nên VKSND không cần thiết phải thực hiện việc kiểm sát đối với hoạt động này. Đây không phải chỉ đơn thuần là vấn đề lý luận, vấn đề khoa học. Thực tiễn đã và đang đặt ra những vướng mắc đòi hỏi các nhà hoạch định chính sách, các nhà khoa học, các nhà hoạt động thực tiễn có câu trả lời thoả đáng, thiết thực.
2. Kết luận
Qua nghiên cứu bước đầu, chúng tôi cho rằng việc xác định tính chất của hoạt động THA có thể được xem xét trên các khía cạnh sau đây:
- Thứ nhất, các nghị quyết của Đảng được ban hành trong thời gian gần đây (như Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 v.v..) ở những mức độ khác nhau, đều có đề cập đến tổ chức và hoạt động THA. Căn cứ vào những nội dung này, có thể xác định THA là hoạt động tư pháp.
- Thứ hai, vấn đề xác định tính chất của hoạt động THA và yêu cầu bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật: Trước hết, một vấn đề đã được nêu ra là việc xác định vị trí, tính chất của cơ quan THA. Cơ quan THA có phải là cơ quan tiến hành tố tụng không? Về vấn đề này, có thể thấy nhiệm vụ thi hành các bản án, quyết định của Toà án về hình sự, dân sự được giao cho nhiều cơ quan, tổ chức, đơn vị khác nhau mà không phải là các cơ quan tiến hành tố tụng. BLTTHS (Điều 33) và BLTTDS hiện hành (Điều 39) cũng không quy định cơ quan THA là cơ quan tiến hành tố tụng, cán bộ thuộc các cơ quan có nhiệm vụ THA (Chấp hành viên, quản giáo, giám thị…) là người tiến hành tố tụng.
Tuy nhiên, điều đáng lưu ý là từ phương diện lập pháp hình sự, có thể nhận xét rằng, THA được xác định là họat động tư pháp; người có thẩm quyền trong họat động THA được xác định là nhân viên tư pháp. Theo đó, Điều 292 về khái niệm tội xâm phạm hoạt động tư pháp của BLHS năm 1999 quy định:
“Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp là những hành vi xâm phạm hoạt động đúng đắn của các cơ quan điều tra, kiểm sát, xét xử và THA trong việc bảo vệ quyền lợi của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân”.
Bên cạnh đó, tại Chương XXII của BLHS năm 1999 về các tội xâm phạm hoạt động tư pháp cũng đã quy định cụ thể về các tội có liên quan đến người có thẩm quyền trong hoạt động THA (như Điều 296 - Tội ra quyết định trái pháp luật, Điều 297 - Tội ép buộc nhân viên tư pháp làm trái pháp luật, Điều 298 - Tội dùng nhục hình v.v..). Cũng gần tương tự với cách tiếp cận này, trong Nghị quyết số 388/2003/NQ-UBTVQH11 ngày 17/3/2003 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự cũng quy định trách nhiệm của cơ quan THA trong việc bồi thường thiệt hại khi để xảy ra việc THA không đúng nội dung bản án, quyết định phải thi hành và gây thiệt hại cho người đã chấp hành án… Nếu không nhìn nhận THA là hoạt động tư pháp (theo nghĩa rộng, bao hàm cả họat động tố tụng), thì rõ ràng, những quy định của BLHS, của Nghị quyết 388 về việc xem xét trách nhiệm của người có thẩm quyền trong hoạt động THA như đã nêu trên cần được xem xét sửa đổi, loại bỏ.
Từ những lý do đã trình bày ở trên, chúng tôi tán thành với quan điểm cho rằng, cần xác định THA là hoạt động tư pháp. Ý nghĩa thực tiễn về yêu cầu xác định rõ tính chất của hoạt động THA là ở chỗ, việc xác định này có ý nghĩa quan trọng trong việc làm căn cứ để xây dựng các chế định về giải quyết khiếu nại, tố cáo; về kiểm sát của VKSND đối với hoạt động THA... trong dự án BLTHA một cách thống nhất. Bên cạnh đó, điều này cũng còn nhằm bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật (về chính sách hình sự, về vấn đề bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra…) đối với những vấn đề có liên quan đến lĩnh vực THA.
Theo Trần Thế Vượng, TC NCLP