Công chứng điện tử là một vấn đề khá mới ở Việt Nam. Tuy nhiên, khi mà các giao dịch điện tử ngày càng nhiều, Luật Giao dịch điện tử đã có hiệu lực từ ngày 01/3/2006 và trong bối cảnh Luật Công chứng đang được hoàn thiện để trình ra kỳ họp thứ 10 của Quốc hội khoá XI tới đây để Quốc hội xem xét thông qua, thì việc nghiên cứu để hoàn thiện cơ sở lý luận, thực tiễn để hoạt động công chứng điện tử đáp ứng nhu cầu thực tiễn là cần thiết.
1. Đặt vấn đề
Ở các nước, quy trình giải quyết các yêu cầu công chứng hầu như không có sự thay đổi nào đáng kể trong suốt một thời gian dài. Điều dễ nhận thấy nhất về sự thay đổi, chuyển biến trong quy trình giải quyết các yêu cầu công chứng chỉ là những thay đổi, cải tiến về mặt kỹ thuật trong một số công đoạn công chứng cụ thể. Tìm hiểu quy định của pháp luật về công chứng ở nước ta qua các thời kỳ, chúng ta có thể nhận thấy sự thay đổi đó, minh chứng rõ nét nhất là hình thức của văn bản công chứng.Ví dụ, Điều 13 Sắc lệnh ngày 24/8/1931 của Tổng thống Cộng hoà Pháp quy định về hình thức của văn bản công chứng: “Các văn bản của công chứng viên phải được viết tay hoặc đánh máy bằng một thứ mực đen không tẩy xoá được…”. Sau hơn hai mươi năm, hình thức văn bản công chứng đã có những thay đổi nhất định. Theo Điều 68 Dụ số 43 ngày 29/11/1954 ấn định quy chế chung cho ngạch chưởng khế của Bảo Đại, thì “Các văn kiện (nguyên bản hay bản chấp chiểu) đều phải viết tay hoặc đánh máy, in thường hay in thạch bản bằng một thứ mực đen không phai lạt…”. Còn hình thức văn bản công chứng tại Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 8/12/2000 của Chính phủ về công chứng, chứng thực được quy định như sau: “Chữ viết trong văn bản công chứng, văn bản chứng thực đối với hợp đồng, giao dịch phải dễ đọc, được thể hiện bằng loại mực bền trên giấy có chất lượng, bảo đảm lưu trữ lâu dài. Chữ viết có thể là chữ viết tay, đánh máy hoặc đánh bằng vi tính…” (Điều 58).
Điều đó cho thấy, những cải tiến trong quy trình giải quyết các yêu cầu công chứng mới chỉ dừng lại ở việc áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật vào hoạt động công chứng. Nếu như trước đây, các văn bản công chứng thường được đánh bằng máy chữ hoặc viết tay, vừa chậm lại khó trình bày đẹp thì nay nhờ khoa học công nghệ, hầu hết các văn bản công chứng đã được soạn thảo trên máy vi tính nên rất tiện lợi cho việc trình bày cũng như sửa chữa văn bản nếu cần thiết. Việc lưu trữ các tài liệu, số liệu trên máy vi tính của phòng công chứng cũng khiến cho việc tra cứu về đương sự, về tài sản tham gia giao dịch được thuận lợi hơn. Tại Việt Nam, việc lưu trữ tài liệu trên máy vi tính cũng đã được pháp luật ghi nhận. Khoản 1 Điều 62 Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 8/12/2000 của Chính phủ về công chứng, chứng thực quy định: “Ngoài việc lưu trữ hồ sơ công chứng, hồ sơ chứng thực, cơ quan nhà nước có thẩm quyền công chứng, chứng thực cần nhập vào máy vi tính các việc công chứng, chứng thực hợp đồng, giao dịch”.
Do số lượng các giao dịch ngày càng lớn và được thực hiện bởi rất nhiều các phòng công chứng khác nhau (với số lượng công chứng viên ngày một đông) nên việc thành lập một mạng máy tính dành riêng cho hoạt động công chứng cũng trở nên cấp thiết. Việc nối mạng này sẽ giúp công chứng viên kiểm tra được đương sự và tài sản khi nhận được những yêu cầu công chứng có liên quan đến những đối tượng này nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu hiện tượng gian lận khi tham gia giao dịch. Ngoài ra, vấn đề hiện đại hoá hoạt động công chứng cũng được thể hiện dưới việc tạo lập một số website về công chứng chủ yếu để giới thiệu địa chỉ các phòng công chứng, thẩm quyền, chức năng của phòng công chứng, trình tự, thủ tục, thời gian thực hiện một số loại việc công chứng cụ thể…
Tuy nhiên, những thay đổi nêu trên mới chỉ dừng lại ở mức tạo điều kiện thuận lợi hơn cho công chứng viên khi tiến hành giải quyết một yêu cầu công chứng. Nếu căn cứ vào những công đoạn, những phần việc mà công chứng viên phải thực hiện khi giải quyết một yêu cầu công chứng cụ thể như đã mô tả ở trên, thì ngay cả khi đã áp dụng những tiến bộ khoa học, khi tác nghiệp, công chứng viên vẫn phải trực tiếp thực hiện đầy đủ tất các công đoạn, phần việc đó. Như vậy, xét trên phương diện pháp luật và cả phương diện thực tế thì cho đến nay, các thành tựu khoa học được áp dụng trong lĩnh vực công chứng mới chỉ dừng lại ở các việc soạn thảo văn bản công chứng, lưu trữ và tra cứu thông tin liên quan đến hoạt động công chứng chứ không giúp giảm bớt các công đoạn, phần việc khi thực hiện một vụ việc công chứng cụ thể.
Cùng với sự bùng nổ của công nghệ thông tin, trong nhiều lĩnh vực đời sống xã hội đã xuất hiện hàng loạt những khái niệm mới, trong đó có những khái niệm có liên quan đến công nghệ thông tin và hoạt động công chứng như chính phủ điện tử, giao dịch điện tử, thương mại điện tử… Và trên thực tế, hiện đã có rất nhiều giao dịch dân sự, kinh tế… được cá nhân, tổ chức thiết lập, giao kết bằng những phương tiện điện tử. Vì vậy, việc tìm hiểu chức năng, vai trò, một số vấn đề có liên quan đến hoạt động công chứng trong giao dịch điện tử là điều nên làm.
2. Có cần thiết tồn tại thiết chế công chứng trong các giao dịch điện tử không?
Câu hỏi này cần sớm được trả lời.
Có quan điểm cho rằng, khi giao dịch điện tử xuất hiện tức là bản chất của giao dịch đã thay đổi hoàn toàn, các nguyên tắc áp dụng trong giao dịch truyền thống tỏ ra không còn phù hợp và hệ quả tất yếu là vai trò của các công cụ, biện pháp nhằm bảo đảm sự an toàn của giao dịch, trong đó có hoạt động công chứng cũng phải thay đổi. Thông thường, khi muốn công chứng viên chứng nhận một hợp đồng, giao dịch theo cách truyền thống, những người có yêu cầu công chứng phải trực tiếp xuất hiện trước mặt công chứng viên để đề xuất nội dung yêu cầu công chứng của mình. Công chứng viên căn cứ vào nội dung yêu cầu công chứng của các bên đương sự, dựa vào quy định pháp luật hiện hành có liên quan để hướng dẫn các bên đương sự thể hiện ý chí của mình phù hợp với quy định của pháp luật, đồng thời yêu cầu họ xuất trình các giấy tờ cần thiết. Trong trường hợp có nghi ngờ, công chứng viên sẽ tiến hành thẩm tra, thậm chí yêu cầu cơ quan có chức năng tiến hành giám định. Khi đã có đầy đủ các dữ kiện trong tay, lúc này công chứng viên mới tiến hành soạn thảo văn bản, hợp đồng nếu được đương sự yêu cầu. Sau khi đương sự thấy rằng văn bản, hợp đồng do công chứng viên soạn thảo (hoặc văn bản, hợp đồng do họ tự soạn thảo) đã thể hiện đầy đủ, chính xác ý chí của mình thì công chứng viên sẽ cho người có yêu cầu công chứng ký kết hoặc điểm chỉ vào văn bản công chứng. Sau đó, công chứng viên sẽ ký tên và đóng dấu vào văn bản, hợp đồng đó. Tất cả các văn bản công chứng này cùng với toàn bộ hồ sơ kèm theo sẽ được công chứng viên lưu trữ và cấp bản sao cho đương sự khi họ yêu cầu. Còn trong các hợp đồng, văn bản được thiết lập bằng giao dịch điện tử, các bên tham gia giao kết hợp đồng hoàn toàn có thể trao đổi, kiểm tra thông tin; đàm phán, thoả thuận về nội dung của hợp đồng, giao dịch; sửa đổi, bổ sung, điều chỉnh các điều khoản, điều kiện của hợp đồng, giao dịch mà không phải trực tiếp gặp nhau. Đặc biệt, trong giao dịch điện tử, việc nhận dạng của các bên đương sự, chữ ký và thậm chí là con dấu của họ… đều đã được “số hoá” và bằng công nghệ hiện đại, người ta hoàn toàn có thể chứng minh trước toà án hoặc trước cơ quan có thẩm quyền về nội dung của các hợp đồng, giao dịch mà họ đã giao kết. Và do vậy, ý kiến này cho rằng: khi tất cả các công đoạn, phần việc để thực hiện một hợp đồng, giao dịch (bao gồm cả khâu ký kết có thể thực hiện trên mạng), thì việc tham gia của công chứng viên vào các giao dịch, hợp đồng đó là không cần thiết.
Theo chúng tôi, quan điểm trên là không hợp lý vì vai trò của công chứng viên trong giao dịch điện tử không có gì thay đổi so với vai trò của họ trong các giao dịch thông thường. Việc ra đời giao dịch điện tử không làm thay đổi bản chất của giao dịch. Nếu trước đây, để thiết lập một giao dịch, hợp đồng, người ta chỉ có thể thể hiện ý chí, nguyện vọng của mình dưới hình thức là giao kết bằng miệng hoặc giao kết bằng văn bản, nay nhờ tiến bộ của khoa học kỹ thuật mà chúng ta có thêm hình thức giao kết bằng phương tiện điện tử. Vì vậy, dù giao dịch được thực hiện bằng phương thức gì thì những nguyên tắc chung, cơ bản nhất áp dụng trong giao dịch, hợp đồng vẫn đương nhiên được áp dụng. Ví dụ: khi giao kết một hợp đồng mua bán tài sản, dù hợp đồng mua bán tài sản đó được thể hiện bằng bất kỳ phương thức nào - kể cả bằng giao dịch điện tử, thì các bên có liên quan vẫn phải tuân thủ các nguyên tắc, các quy định của Bộ luật Dân sự.
Thêm vào đó, trong giao dịch điện tử, với chức năng là một nhà tư vấn, thông qua việc sử dụng các máy tính đã được nối mạng, công chứng viên vẫn hoàn toàn có thể tham gia góp ý, tư vấn cho các bên tham gia giao kết hợp đồng, giao dịch thể hiện ý chí của mình một cách hợp pháp. Và đặc biệt, bằng các công cụ điện tử, công chứng viên vẫn có thể thực hiện chức năng cơ bản và quan trọng nhất của mình là thay mặt nhà nước ghi nhận những thoả thuận cuối cùng của các bên với tư cách là một người làm chứng ngay thẳng và trung thực. Như vậy, có thể khẳng định rằng: công chứng có vai trò quan trọng trong các giao dịch dân sự, kinh tế, thương mại…, nhất là đối với các giao dịch mà pháp luật quy định bắt buộc phải có sự tham gia chứng kiến của công chứng viên, cho dù các giao dịch này được thể hiện dưới hình thức giao dịch điện tử.
Trên thực tế, ở một số quốc gia có trình độ công nghệ thông tin phát triển cao vẫn có thể chế công chứng trong các giao dịch điện tử. Một điểm cần lưu ý là dù số lượng hợp đồng, giao dịch điện tử được thực hiện ngày càng nhiều thì ngay ở cả những quốc gia có nền công nghệ thông tin hiện đại, đến nay các giao dịch điện tử cũng không thể thay thế hoàn toàn hình thức giao dịch theo kiểu truyền thống. Như vậy, việc tồn tại và hơn nữa là tiếp tục phát huy vai trò của công chứng viên trong các giao dịch điện tử là điều không phải bàn cãi.
3. Công chứng điện tử có điểm gì khác biệt với công chứng truyền thống?
Để trả lời câu hỏi này, cần phải làm rõ xem các nguyên tắc, những yêu cầu, cách thức thực hiện đối với công chứng theo kiểu truyền thống có còn tiếp tục được áp dụng trong công chứng điện tử hay không?
Quay lại với quy trình giải quyết một yêu cầu công chứng được nêu ở trên ta thấy, công nghệ thông tin tuy không làm thay đổi về mặt bản chất của hợp đồng, giao dịch nhưng nó đã giúp ích, giảm thiểu công sức cho công chứng viên ở một vài công đoạn: soạn thảo văn bản, tư vấn, tra cứu thông tin… So sánh với các giao dịch, hợp đồng được thực hiện theo phương thức truyền thống, thì khi sử dụng hình thức giao dịch điện tử, cách thức công chứng viên tư vấn cho các bên đương sự; cách thức kiểm tra, xác minh thông tin; cách thức soạn thảo văn bản, thể hiện văn bản…. có nhiều điểm khác biệt. Tức là phải có những thay đổi nhất định. Cơ sở lý luận cho kết luận này chính là việc một khi phương thức giao dịch thay đổi thì phương thức sử dụng để bảo đảm tính hợp pháp, tính xác thực cho các giao dịch đó dứt khoát phải có sự thay đổi cho phù hợp. Tuy nhiên, những thay đổi nói trên chỉ mang tính hình thức, mang tính chất kỹ thuật, còn bản chất và mục đích của những hành vi này vẫn không có gì thay đổi. Dù được thực hiện dưới bất kỳ hình thức nào, thì việc tư vấn của công chứng viên cho người có yêu cầu công chứng vẫn phải bảo đảm để họ thể hiện chính xác ý chí của mình phù hợp với quy định hiện hành của pháp luật, không được trái với các quy chuẩn đạo đức của xã hội và văn bản công chứng phải bảo đảm tính xác thực và tính hợp pháp... Do đó, theo chúng tôi, bản chất của hoạt động công chứng điện tử vẫn không có gì khác biệt so với bản chất của công chứng truyền thống.
Vậy, điểm khác biệt giữa công chứng điện tử và công chứng truyền thống là gì?
Có quan điểm cho rằng, trong hình thức công chứng điện tử, công chứng viên và những người có yêu cầu công chứng không cần thiết phải gặp nhau một cách trực tiếp mà họ có thể trao đổi thông tin, đàm phán, tư vấn, thoả thuận và giao kết bằng các phương tiện điện tử. Theo đó, trong giao dịch điện tử, do các thông tin liên quan đến giao dịch, nhận dạng của các cá nhân… đã được mã hoá, chữ ký của các bên đương sự cũng được thể hiện bằng chữ ký điện tử, chữ ký và con dấu của công chứng viên cũng là con dấu và chữ ký điện tử, văn bản công chứng cũng được lưu giữ dưới dạng dữ liệu điện tử… nên khi ký kết một hợp đồng bằng phương thức giao dịch điện tử thì các bên tham gia giao kết hợp đồng, công chứng viên chứng nhận hợp đồng không nhất thiết phải trực tiếp gặp nhau. Việc công chứng hoàn toàn có thể thực hiện được từ xa. Hiện nay pháp luật về công chứng của một số quốc gia, cũng như Việt Nam, đã cho phép các bên tham gia giao kết hợp đồng, giao dịch được ký kết văn bản, hợp đồng mà không cần có sự chứng kiến trực tiếp của công chứng viên. Cụ thể: Mục 2 Phần I Thông tư số 03/2001/TP-CC ngày 14/3/2001 của Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 8/12/2000 của Chính phủ về công chứng, chứng thực quy định: “Trong trường hợp người có thẩm quyền giao kết hợp đồng của tổ chức tín dụng, doanh nghiệp đã đăng ký chữ ký mẫu tại cơ quan công chứng, chứng thực, thì có thể cho phép người đó ký trước vào hợp đồng; người thực hiện công chứng, chứng thực phải đối chiếu chữ ký của họ trong hợp đồng với chữ ký mẫu, trước khi thực hiện việc công chứng, chứng thực”.
Quy định trên chỉ áp dụng cho các tổ chức tín dụng, doanh nghiệp là chủ thể tham gia hợp đồng, giao dịch chứ không áp dụng cho cá nhân. Lý giải cho quy định này là do ngoài chữ ký của người đại diện cho tổ chức tín dụng, doanh nghiệp, trên văn bản công chứng còn có cả con dấu đại diện cho tư cách pháp nhân của doanh nghiệp, tổ chức tín dụng đó. Do vậy, mặc dù người đại diện doanh nghiệp, tổ chức tín dụng không thực hiện việc ký kết hợp đồng, giao dịch trước sự chứng kiến của công chứng viên nhưng công chứng viên vẫn có thể hoàn toàn yên tâm về nhận dạng, trạng thái tinh thần, khả năng nhận thức của người đại diện cho tổ chức tín dụng, doanh nghiệp tại thời điểm giao kết hợp đồng, giao dịch.
Còn đối với những quốc gia cho phép người yêu cầu công chứng ký vào văn bản công chứng mà không cần có sự chứng kiến trực tiếp của công chứng viên (ví dụ như ở Hoa Kỳ) thì để được chứng nhận văn bản đó, tại thời điểm công chứng viên chứng nhận, người yêu cầu công chứng vẫn phải trực tiếp xuất hiện trước mặt công chứng viên và sau khi được kiểm tra về nhận dạng, trạng thái tâm lý, tinh thần, khả năng nhận thức, người đó phải chính thức thừa nhận chữ ký trên văn bản công chứng đó chính là chữ ký của mình. Tuy nhiên, hình thức này cũng chỉ được sử dụng một cách hạn chế (không phải bất kỳ loại văn bản nào cũng được áp dụng quy định này mà chỉ có hình thức văn bản xác nhận - acknowledgment - mới được áp dụng). Đối với một số quốc gia có hệ thống công chứng theo dạng công chứng nội dung (ví dụ như Cộng hoà Pháp), quy định này cũng được vận dụng nhưng theo một phương thức khác. Các bên tham gia hợp đồng, giao dịch hoàn toàn có thể ký kết giao dịch, hợp đồng mà không cần có sự chứng kiến của công chứng viên mà thay vào đó là phải có sự chứng kiến của một thư ký được công chứng viên uỷ quyền. Cách thức này giúp cho các công chứng viên vừa có thể xác định chính xác trạng thái tâm lý của các bên đương sự, khả năng nhận thức của họ khi tiến hành giao kết hợp đồng, giao dịch; vừa có thể giảm bớt áp lực công việc bằng cách giao một vài công đoạn trong việc giải quyết một yêu cầu công chứng cho những người thư ký có đủ khả năng, trình độ chuyên môn. Sự phân tích trên cho thấy, quan điểm cho rằng có thể thực hiện toàn bộ, trọn vẹn bất kỳ vụ việc công chứng nào mà không cần có sự hiện diện trực tiếp của công chứng viên là không hợp lý.
Trở lại với quy trình thực hiện một việc công chứng cụ thể, việc các bên trao đổi thông tin, quan điểm, ý chí của mình cho nhau, nội dung thoả thuận của họ cũng như việc công chứng viên tham gia tư vấn cho những người có yêu cầu công chứng, thậm chí soạn thảo văn bản công chứng khi được yêu cầu… cũng vẫn chỉ dừng lại ở thủ tục. Nguyên tắc quan trọng nhất khi thực hiện một vụ việc công chứng cụ thể chính là việc cá nhân người muốn giao kết văn bản, hợp đồng phải xuất hiện trước mặt công chứng viên để trực tiếp ký hoặc khẳng định chữ ký trên văn bản, hợp đồng là chữ ký của mình.
Tuy nhiên, vấn đề đặt ra ở đây không chỉ đơn thuần là chữ ký của đương sự mà điều quan trọng nhất là việc công chứng viên phải kiểm tra chính xác về nhận dạng, sự tự nguyện, trạng thái tâm lý, khả năng nhận thức của các bên đương sự khi giao kết hợp đồng, giao dịch. Ngay cả khi khoa học kỹ thuật phát triển ở trình độ cao thì cũng không thể đáp ứng được toàn bộ các yêu cầu trên bằng công nghệ. Và do vậy, đối với các giao dịch, hợp đồng được thực hiện bằng giao dịch điện tử thì khi bắt đầu quá trình thiết lập giao dịch, trao đổi thông tin, đàm phán, soạn thảo văn bản… giữa các bên đương sự cũng như giữa họ với công chứng viên đều có thể được thực hiện bằng phương tiện điện tử (các bên không nhất thiết phải trực tiếp gặp mặt nhau), nhưng khi chính thức giao kết hợp đồng, giao dịch thì các bên tham gia giao kết hợp đồng, giao dịch đó phải trực tiếp xuất hiện trước mặt công chứng viên để công chứng viên có thể trực tiếp kiểm tra nhận dạng, trạng thái tinh thần, khả năng nhận thức của họ trước khi họ chính thức giao kết giao dịch, hợp đồng.
Điểm khác biệt duy nhất mà chúng ta có thể nhận thấy đối với phương thức giao dịch điện tử so với phương thức giao dịch truyền thống chính là những kỹ thuật, công nghệ hiện đại được áp dụng trong lĩnh vực này. ở phương thức giao dịch truyền thống, nội dung thoả thuận của các bên được thể hiện bằng văn bản dưới dạng các hợp đồng, còn đối với các giao dịch được thực hiện bằng phương tiện điện tử thì nội dung thoả thuận của các bên sẽ được thể hiện dưới dạng các dữ liệu chứa đựng trong máy tính. Sau khi giao kết, các dữ liệu, thông tin này sẽ không thể bị bất kỳ một trong các bên tham gia giao kết hợp đồng, giao dịch cũng như bên thứ ba nào sửa đổi nhưng các bên có liên quan có thể hiển thị các thông tin, dữ liệu này trên màn hình và hoàn toàn có thể in chúng ra giấy. Và tất nhiên, do thoả thuận của các bên được thể hiện dưới hình thức dữ liệu nằm trong máy tính nên các bên tham gia giao kết hợp đồng, giao dịch thay vì sử dụng chữ ký thông thường của mình để giao kết sẽ phải tiến hành giao kết bằng chữ ký điện tử, đến lượt công chứng viên cũng thể hiện quyền năng của mình bằng chữ ký điện tử và có thể là bằng cả con dấu điện tử. Như vậy, có thể khẳng định rằng, các nguyên tắc mang tính cốt lõi cho hoạt động công chứng truyền thống vẫn phải được tuân thủ và áp dụng chặt chẽ trong công chứng điện tử.
4. Kết luận
Tại nước ta, vấn đề hiện đại hoá hoạt động tư pháp và bổ trợ tư pháp nói chung cũng như hoạt động công chứng nói riêng đã được quan tâm một cách đúng mức. Hiện nay, dưới sự chủ trì của Bộ Tư pháp, ngành công chứng Việt Nam cũng đang thực hiện dự án tin học hoá trong chương trình hợp tác quốc tế với ngành công chứng của Cộng hoà Pháp. Mục tiêu bước đầu của dự án không chỉ là việc đầu tư về trang thiết bị vật chất (bao gồm cả phần cứng lẫn phần mềm) mà còn là việc đào tạo kỹ năng tác nghiệp trên máy vi tính cho các công chứng viên, cán bộ của phòng công chứng. Có thể nói, đây là những bước đi đầu tiên nhằm tạo tiền đề, cơ sở vật chất ban đầu cũng như nhằm đúc rút kinh nghiệm thực tế cho việc xây dựng công chứng điện tử ở nước ta, đặc biệt là khi Luật Giao dịch điện tử đã có hiệu lực từ ngày 1/3/2006. Luật Giao dịch điện tử đã xây dựng cơ sở pháp lý cần thiết nhất cho hoạt động công chứng bằng việc ghi nhận những biện pháp, công cụ điện tử được sử dụng trong giao dịch điện tử cũng như giá trị pháp lý của hình thức giao dịch này. Do đó, để thiết chế công chứng có thể đáp ứng được những yêu cầu chính đáng, hợp pháp của công dân, tổ chức trong thời gian tới, ngay từ bây giờ, chúng ta phải tiến hành nghiên cứu mô hình tổ chức và hoạt động của công chứng điện tử. Theo chúng tôi, muốn thực hiện được mục tiêu này, chúng ta cần phải đáp ứng được hai yêu cầu cơ bản sau:
Thứ nhất, cần ghi nhận, khẳng định được vị trí, vai trò của hoạt động công chứng trong xã hội điện tử (hợp đồng điện tử, giao dịch điện tử, thương mại điện tử…) trong các văn bản quy phạm pháp luật. Một khi đã được pháp luật khẳng định chính thức về vị trí, vai trò của mình trong các giao dịch điện tử, công chứng điện tử sẽ có đầy đủ cơ sở pháp lý để phát triển, khẳng định mình cũng như tạo ra hành lang pháp lý an toàn cho cá nhân, tổ chức khi tham gia giao kết các hợp đồng, giao dịch bằng phương tiện điện tử. Đó là điều kiện “cần”.
Thứ hai, điều kiện “đủ” để công chứng điện tử thật sự đi vào cuộc sống là phải xây dựng cơ sở vật chất cần thiết (mạng, đường truyền, máy chủ và máy trạm…) và đưa ra những giải pháp về mặt công nghệ (chữ ký điện tử, con dấu điện tử, xác định nhận dạng của đương sự bằng các phương tiện điện tử, vấn đề bảo mật những thông tin liên quan đến giao dịch…).
Ngoài ra, chúng ta cần nghiên cứu để tiếp tục hoàn thiện cơ sở lý luận về hoạt động công chứng cũng như những yêu cầu đối với hoạt động công chứng nói chung và công chứng điện tử nói riêng.
Theo Tuấn Đạo Thanh, TC NCLP