Việt Nam đã hội nhập vào thế giới hiện đại. Trong tình hình này, có những điều mới mà ta chưa quen. Tôi chỉ nói đến việc tôn trọng pháp luật, then chốt của mọi hợp tác trong giai đoạn mới này của loài người.
1. Việt Nam đã hội nhập vào thế giới hiện đại. Trong tình hình này, có những điều mới mà ta chưa quen. Tôi chỉ nói đến việc tôn trọng pháp luật, then chốt của mọi hợp tác trong giai đoạn mới này của loài người.
Tôi còn nhớ có một lần chiếc ô tô đưa tôi và một chuyên gia nổi tiếng của Pháp qua cầu Long Biên. Thấy một cái biển to tướng đề mấy chữ “Sống và làm việc theo pháp luật”, vị chuyên gia nhờ tôi dịch. Tôi vừa dịch xong, vị chuyên gia đã sửng sốt nói: “Làm sao có thể có một khẩu hiệu lạ lùng như thế? Tôi thực không sao hiểu nổi”. Vị chuyên gia không hiểu là phải. Vì đối với một người sống trong xã hội tư bản, mọi quan hệ công việc giữa người với người đều dựa vào pháp luật. Cách sống và làm việc của họ là dựa trên pháp luật cũng hiển nhiên như chuyện hít khí trời. Riêng khẩu hiệu này cũng đủ chứng tỏ người Việt Nam chưa quen với lối sống và làm việc theo pháp luật.
Điều không thể chối cãi là thế giới mới lấy pháp luật làm then chốt của mọi quan hệ, mà trước hết là trong các quan hệ buôn bán, kinh doanh. Điều này là kết quả của hoạt động thương mại đã bành trướng từ thời văn minh Hy Lạp rồi văn minh La Mã. Tuy nó chỉ bó hẹp vào các quan hệ giữa chủ nô với chủ nô, nhưng các điều khoản trong bộ luật La Mã đã phân biệt những đạo luật liên quan đến nhà nước, và các pháp luật liên quan tới việc giao dịch, buôn bán giữa các tư nhân, tức là các giao kèo. Sau cách mạng tư sản, khi quyền bình đẳng giữa các công dân được tuyên bố công khai, đạo luật Naponéon năm 1802 được chấp hành rộng rãi. Luật pháp thành một thứ thần linh, đúng như Bác Hồ nói: “Trăm điều phải có thần linh pháp quyền”.
Việc nêu cao “thần linh pháp quyền” là đặc điểm của đường lối lãnh đạo của Đảng, dưới sự lãnh đạo của Bác Hồ. Cuộc khởi nghĩa toàn dân giành chính quyền cả nước trong 10 ngày chỉ có thể lập ra Chính phủ lâm thời, để rồi còn phải trải qua một cuộc tổng tuyển cử trong cả nước ngày 6/1/1946, trong đó không phân biệt nam nữ, mọi người từ 18 tuổi trở nên đều được đi bầu những đại biểu của đơn vị mình để bầu ra Quốc hội, rồi Quốc hội được bầu mới thông qua Chính phủ chính thức. Một bản Hiến pháp được ban hành ngày 28/10/1946 thừa nhận quyền bình đẳng của mọi công dân Việt Nam, cả nam lẫn nữ, quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức và hội họp, tự do tín ngưỡng, tự do đi lại trong nước và ra ngoài nước, quyền tư hữu tài sản. Rồi một bộ luật (Luật cải cách ruộng đất năm 1953 - NCLP) được ban hành theo tinh thần dân chủ, và phù hợp với yêu cầu của một nước dân chủ và hiện đại.
2. Nhưng có những cản trở khách quan. Trước hết, là do thói quen trong văn hóa cũ, những thói quen của nền văn hóa của chế độ làng nước để lại. Vì thương nghiệp không phát triển, khái niệm pháp luật chung cho mọi thành viên của xã hội cũng bị hạn chế. Người dân sống theo lệ tục hơn là theo pháp luật. Rồi với giai đoạn chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ, hầu như không có điều kiện để nhắc đến “thần linh pháp quyền”.
Trong vận hội mới, những đặc điểm đó chính là chỗ yếu của văn hóa Việt Nam. Tôi chỉ có thể nói đến nhược điểm này một cách dè dặt trước thói quen xét nét của những ai hay nhắc đến nhược điểm của dân tộc. Nhược điểm này sẽ gây khó khăn cho cuộc hội nhập. Để giảm bớt khó khăn, cần phải xuất bản nhiều công trình về pháp luật quốc tế và phổ biến rộng rãi, nhằm tránh khỏi những sai sót đáng tiếc có thể có do người dân chưa hiểu cơ bản về pháp luật quốc tế trong giai đoạn mới. Cũng phải thấy, chuyện làm đất nước giàu có là một chuyện khó, mà cái trở lực cần vượt qua là những quan niệm không khỏi cứng nhắc của ta về thành phần, giai cấp, lý lịch, hơn là khả năng của từng người để làm đất nước giàu có và phát triển. Không phải ngẫu nhiên mà chúng ta đã trải qua một giai đoạn gọi là quan liêu bao cấp, trong đó vai trò của “thần linh pháp quyền” là mờ nhạt. Rồi những sai sót vừa qua và hiện nay làm Đảng và nhân dân đau lòng, phần lớn đều gắn liền với giai đoạn quan liêu bao cấp. Nói cho đúng, giai đoạn này chỉ mới phát triển từ sau 1975. Còn trước đó, từ người lãnh đạo đến dân thường, ai cũng cố gắng sống cần, kiệm, liêm, chính. Tuy chưa thực sự hiểu tầm quan trọng của pháp quyền dân chủ, nhưng do nhiệt tình cách mạng, người nào cũng cố gắng sống tiết kiệm, tránh xa hoa, lãng phí.
Sự tôn trọng pháp quyền dân chủ không phải là một khái niệm do một người nào đặt ra để thế giới theo. Mà nó là điều tất nhiên của một xã hội dựa trên quan hệ, không phải dựa trên bạo lực. Mà muốn có quan hệ sòng phẳng thì giữa hai bên phải có sự bình đẳng. Cả hai đều sẽ có lợi trong cuộc giao tiếp (giao thương), khi đó giao tiếp, sản xuất tăng vọt. Cái lợi này không phải do bóc lột, mưu mô, mánh khóe, địa vị mà có. Nó có do chỗ mình tìm được biện pháp, kỹ thuật sao cho điều mình sản xuất phù hợp với tâm lý, nhu cầu, mong muốn của người tiêu dùng. Điều này thực tế chúng ta còn yếu. Đây là một cái yếu truyền thống.
Tôi chỉ so sánh người Việt Nam với Hoa kiều. Tôi đã có dịp đến một vài nước Đông Nam Á và nước Pháp. Tôi thấy người Hoa kiều chiếm một địa vị quan trọng trong thương nghiệp và kinh doanh ở các nước Đông Nam Á. Ngay ở Pháp cũng có nhiều nhà buôn Hoa kiều giàu có. Trái lại, tôi thấy người Việt Nam ở nước ngoài (Việt kiều) tài giỏi ngay trong những công việc phức tạp nhất, khó khăn nhất về khoa học kỹ thuật, nhưng lại khó lòng tìm thấy một người Việt nào giỏi về kinh doanh, buôn bán. Tôi chưa có dịp đến tận nơi tìm hiểu cách sống của Việt kiều sau năm 1975, nhưng xem ra, thái độ coi nhẹ nghề buôn bắt rễ từ quan niệm “sĩ, nông, công, thương”, coi thương nhân là hạng bét, vẫn còn trong bà con Việt kiều. Người Việt trong nước cũng vậy. Mà hễ khái niệm ấy còn, thì làm sao thắng được nghèo khổ? Bởi vì lịch sử cho thấy không có nước nào coi khinh nghề buôn, chỉ sống bằng nông nghiệp mà giàu có cả.
3. Là người làm về văn hóa, cho phép tôi bó hẹp vào những điều liên quan đến văn hóa có thể phục vụ chế độ.
Trước hết, phải có những tác phẩm viết về chế độ pháp quyền trên thế giới. Việt Nam trước đây đã có nhiều luật gia giỏi, và hiện nay lại càng nhiều hơn. Hy vọng các luật gia sẽ giúp trình bày các nguyên lý cơ bản của chế độ pháp quyền dưới một hình thức dễ hiểu và có thể áp dụng được. Đặc biệt, những công trình viết về chế độ pháp quyền ở những nước mà Việt Nam sẽ có quan hệ ngày càng rộng rãi và mật thiết. Dĩ nhiên, việc Việt Nam gia nhập kinh tế thế giới là một dịp may hiếm có. Nhưng nếu ta không biết làm, chỉ nhìn thấy cái lợi mà không nhìn thấy sự ràng buộc, thì sẽ bị thiệt mà không thể kêu được, và sẽ bị lệ thuộc vào kinh tế.
Đặc biệt, cần giới thiệu những gương mặt tiêu biểu, biết áp dụng những quy tắc của pháp luật để trở nên giàu có và có ích cho xã hội. Không ai tự nhiên trở thành nhà kinh doanh giỏi, cũng như không ai tự nhiên thành người cách mạng, người quân nhân lỗi lạc. Có lòng yêu nước vẫn chưa đủ, mà phải có kinh nghiệm, thậm chí có những sai sót nhất thời. Ngay ở Việt Nam, cũng có những tấm gương đáng chú ý. Cái thời cho sự giàu có là kết quả của bóc lột, lừa đảo, dối trá đã qua. Cần phải rút ra bài học cho thời đại mới.
Trong công việc này, tôi thấy cần phải rút ra bài học ngay từ cuộc kháng chiến của ta. Thời chống Pháp, Pháp muốn lợi dụng ưu thế của xe tăng, trọng pháo, bắt ta phải theo trận địa chiến. Nhưng ta vẫn theo chiến lược đánh giặc của cha ông, dùng đoản binh thắng trường trận. Sau một thời gian, khi ta đã có đủ kinh nghiệm, ta mở chiến dịch đánh Điện Biên Phủ thì Pháp “hết vở”, thua trận và phải “bỏ” Việt Nam. Các tư nhân của ta kinh nghiệm ít, vốn ít, cần phải theo đường lối Bác Hồ đã vạch ra: “Mục tiêu một, kế hoạch mười, quyết tâm hai mươi”.
Theo GS. Phan Ngọc, TC NCLP