quan trọng trong quá trình chuyển giao công nghệ, liên doanh liên kết và cổ phần hoá (CPH) các doanh nghiệp (DN) là câu chuyện thời sự kể từ khi thực hiện CPH đến nay. Tuy nhiên đánh giá tài sản vô hình như thế nào cho chính xác lại là vấn đề ít người quan tâm.
Trong Luật Sở hữu trí tuệ và Luật Chuyển giao công nghệ có một vấn đề nổi cộm là trong quá trình chuyển giao công nghệ hoặc cổ phần hoá, liên doanh, v.v... đối với các doanh nghiệp thì tài sản vô hình, ví dụ như công nghệ, sáng chế, know-how, thương hiệu, v.v... sẽ được đánh giá ra sao hoặc giá trị công nghệ của thành quả KHCN sẽ được xác định ra sao? Đây là khúc mắc lớn cản trở tiến trình sát nhập và cổ phần hoá hoặc giao dịch công nghệ hiện nay, nhất là trong việc góp vào cổ phần của (DN) bằng tài sản trí tuệ. Về đánh giá thương hiệu, Bộ Tài chính đã có quy định công thức tính giá trị lợi thế kinh doanh của các doanh nghiệp Nhà nước (dựa trên giá trị tài sản trên sổ sách và tỷ lệ lợi nhuận bình quân của doanh nghiệp), nhưng các công thức này khó áp dụng trong thực tế. Ngày 18.4.2005, Bộ Tài chính có ban hành quyết định số 24/2005/QĐ-BTC về việc ban hành 3 tiêu chuẩn thẩm định giá Việt Nam, trong đó giá trị thị trường là cơ sở cơ bản để định giá các tài sản, nhưng rất đáng tiếc, những quy định này cũng không đề cập đến đánh giá tài sản vô hình, cũng như còn xa rời, lạc lõng với những kiến thức hiện đại của các tiêu chuẩn đánh giá tài sản mà các nước trên thế giới hiện nay đang sử dụng. Điều cần đáng nói ở đây là trong toàn bộ hệ thống chính sách về sở hữu trí tuệ ở nước ta còn thiếu hẳn một mảng lớn quy định về quản lý đánh giá sáng chế, know-how hoặc thương hiệu, cũng như chưa có một cơ quan nào đứng ra nghiên cứu phát triển phương pháp đánh giá tài sản sở hữu trí tuệ.
Về việc nên chọn phương pháp nào để đánh giá thì theo tiêu chuẩn đánh giá quốc tế, tài sản vô hình thường được đánh giá theo phương pháp thị trường (ví dụ Mỹ, EU), nhưng tại các quốc gia chưa có nền kinh tế thị trường trưởng thành và lành mạnh thì lại chấp nhận phương pháp thu nhập là phương pháp đánh giá chủ yếu (ví dụ Hàn Quốc, Trung Quốc).
Thuật ngữ "tài sản vô hình" tại các quốc gia phương Tây đã có lịch sử gần một trăm năm. Tuy đã có rất nhiều nhà khoa học các nước đã tiến hành nghiên cứu xem tài sản vô hình là cái gì, nhưng cho đến nay vẫn chưa có khái niệm thống nhất. Đối với việc xác định khái niệm về tài sản vô hình, có nhiều người chỉ mô tả, tức là lấy bề ngoài của tài sản vô hình thay cho nội hàm của tài sản vô hình. Đáng lưu ý là số lượng tài sản vô hình của một công ty sẽ đại diện cho thực lực công nghệ và năng lực cạnh tranh của công ty đó. Tài sản vô hình có thể mang lại lợi nhuận vượt mức cho công ty, là nguồn lực kinh tế quan trọng của công ty. Cùng với tiến bộ KHCN, tài sản vô hình trở thành chỗ dựa chủ yếu để công ty phát triển bền vững và liên tục, địa vị và tác động của tài sản vô hình trong công ty cũng rất cao. Đồng thời, đánh giá tài sản vô hình cũng trở thành một lĩnh vực nghiên cứu quan trọng.
Tài sản vô hình có thể phát huy tác dụng dài hạn đối với sản xuất kinh doanh và thậm chí có thể mang lại lợi ích kinh tế, cho nên nó là một loại tài sản. Vì là một loại tài sản nên tài sản vô hình có thể chuyển nhượng, có thể lập giá để góp cổ phần vào vốn đăng ký của doanh nghiệp.
Hiện nay, có một số doanh nghiệp đã dần dần hiểu được tác dụng của tài sản vô hình (chủ yếu đề cập đến thương hiệu). Nhưng còn có rất nhiều doanh nghiệp còn chưa hiểu ra hoặc có hiểu nhưng chưa coi trọng. điều này có thể gây ra tổn thất đến vốn đầu tư của doanh nghiệp.
Đối với việc làm rõ tài sản vô hình tồn tại trong doanh nghiệp, nếu trong doanh nghiệp tiến hành hoạt động kinh tế như liên doanh, thay đổi hệ thống, cùng góp vốn, thì phải tiến hành đánh giá xác định chính xác đối với tài sản vô hình của doanh nghiệp, có thể nâng cao hình tượng của doanh nghiệp, tăng sức tự tin của doanh nghiệp, phòng ngừa sự thất thoát tài sản của doanh nghiệp. Đặc biệt là khi hợp tác, cùng góp vốn liên doanh giữa Việt Nam và nước ngoài, có thể phòng ngừa tổn thất tài sản trong nước.
Phương pháp đánh giá tài sản vô hình thông thường có 3 phương pháp: phương pháp chi phí, phương pháp thị trường và phương pháp thu nhập.
Phương pháp chi phí là phương pháp xác định giá trị của tài sản vô hình theo chi phí của tài sản vô hình. Chi phí ở đây là chi phí thay thế, tức là chi phí cần thiết được tiến hành tính toán từ giá cả dùng hiện tại của chi phí vật liệu, nhân công đã dùng và tiêu hao tức thời, hoặc là chi phí tiêu hao cần thiết đã có được chức năng tương đồng của phương pháp sử dụng hiện tại.
Phương pháp thị trường là phương pháp giá thị trường của tài sản vô hình thông qua điều chỉnh thích hợp, sau đó xác định giá trị của tài sản vô hình. Cần lưu ý rằng, nền kinh tế thị trường Việt Nam còn non trẻ, giao dịch tài sản vô hình còn rất hạn chế, nên trong đánh giá tài sản vô hình việc sử dụng phương pháp thị trường còn chưa thích hợp.
Phương pháp thu nhập là phương pháp tính giá trị tài sản vô hình lấy thu nhập tạo ra trong kỳ thu nhập tương lai của tài sản vô hình tính thành giá trị hiện hành theo tỉ lệ lỗ vốn hiện hành nào đó. Đây là phương pháp được sử dụng nhiều nhất trong đánh giá tài sản vô hình hiện nay. Kinh nghiệm này cũng được các chuyên gia Hàn Quốc, Trung Quốc và nhiều nước khác chia sẻ.
Đánh giá tài sản nói chung và đánh giá tài sản vô hình nói riêng là dịch vụ KHCN. Theo kinh nghiệm các nước, công việc này do các tổ chức trung gian đứng ra đảm nhiệm. Tại Hàn Quốc có hàng trăm công ty hoặc trung tâm được tổ chức theo ngành nghề và khu vực. Tại Trung Quốc có hàng ngàn công ty đánh giá tài sản khắp nơi trong toàn quốc. Chi phí thuê đánh giá tài sản vô hình cho 1 phi vụ đánh giá giá trị công nghệ tại Hàn Quốc lên đến 20.000-30.000 USD.
Tóm lại, đánh giá tài sản nói chung và đánh giá tài sản vô hình nói riêng là một lĩnh vực dịch vụ trung gian công nghệ hết sức quan trọng đối với hầu hết các quốc gia trên thế giới. Đối với Việt Nam tuy non trẻ và mới mẻ nhưng đây là lĩnh vực dịch vụ mang lại nhiều giá trị gia tăng và có nhiều triển vọng phát triển trong tương lai gần ở nước ta trước thềm hội nhập.
Theo Ts. Nguyễn Nghĩa, Viện SHTT, Báo ĐS&PL