Trong lịch sử phát triển lâu dài của chế độ phong kiến ở Trung Quốc, ngay từ triều đại nhà Hán (năm 206 trước Công nguyên đến năm 265 sau Công nguyên) đã có một cơ quan mang tên YU SHI có nhiệm vụ giám sát các quan chức trong triều đình. Về sau, YU SHI còn được giao nhiệm vụ giám sát tư pháp và hoạt động xét xử. Đến triều đại nhà Thanh, mô hình bộ máy nhà nước, trong đó có cơ quan công tố từ phương Tây mà đặc biệt là Pháp đã được áp dụng tại Trung Quốc.
1. Vài nét về sự ra đời và phát triển của cơ quan Viện kiểm sát nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa
Trong lịch sử phát triển lâu dài của chế độ phong kiến ở Trung Quốc, ngay từ triều đại nhà Hán (năm 206 trước Công nguyên đến năm 265 sau Công nguyên) đã có một cơ quan mang tên YU SHI có nhiệm vụ giám sát các quan chức trong triều đình. Về sau, YU SHI còn được giao nhiệm vụ giám sát tư pháp và hoạt động xét xử. Đến triều đại nhà Thanh, mô hình bộ máy nhà nước, trong đó có cơ quan công tố từ phương Tây mà đặc biệt là Pháp đã được áp dụng tại Trung Quốc. Theo Luật tổ chức xét xử Da Li Yuan (Toà án), cơ quan kiểm sát được gọi là cục công tố được thành lập ở tất cả các toà án với nhiệm vụ truy tố, giám sát xét xử và giám sát thi hành án. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc, chức năng công tố đã chính thức tách rời khỏi chức năng xét xử.
Ngày 10 tháng 10 năm 1911, triều đình phong kiến nhà Thanh bị lật đổ, nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa ra đời. Bên cạnh những tư tưởng mới về tự do, dân chủ, về luật pháp của các nước Âu, Mỹ mới du nhập vào Trung Quốc, tư tưởng và thói quen xét xử của đất nước phong kiến hàng nghìn năm vẫn hiện hữu, không dễ gì xoá bỏ. Vì vậy, luật pháp Trung Quốc giai đoạn này có sự pha trộn, kết hợp giữa các mô hình. Hệ thống cơ quan công tố cũng không phải là ngoại lệ. Luật tổ chức Toà án năm 1921 đã thành lập một hệ thống công tố độc lập, tách rời với cơ cấu của Toà án. Viện công tố có nhiệm vụ: điều tra tội phạm, khởi tố và thực hành quyền công tố, hỗ trợ tư tố và chỉ đạo thi hành án hình sự.
Đến năm 1927, quy định về Toà án tối cao được ban hành. Theo quy định này, các viện công tố được thành lập gắn với toà án như mô hình của Pháp.
Đến năm 1931, Viện công tố được giao thêm nhiệm vụ giám sát các quan chức nhà nước. Đây là sự kết hợp giữa truyền thống luật Châu Âu lục địa và truyền thống luật Trung Quốc.
Sau khi Cách mạng Trung Quốc do Đảng Cộng sản lãnh đạo giành thắng lợi, Nhà nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa được thành lập (1/10/1949), dưới sự ảnh hưởng to lớn của Đảng Cộng sản và Nhà nước Liên bang Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô - viết (Liên Xô), Trung Quốc đã tiếp thu mô hình và những nguyên tắc cơ bản về tổ chức bộ máy và hoạt động của Nhà nước Liên Xô vào việc tổ chức bộ máy nhà nước của mình. Hệ thống cơ quan Viện kiểm sát cũng không phải là ngoại lệ, theo đó, hệ thống cơ quan Viện kiểm sát nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa là cơ quan giám sát pháp luật, được thành lập theo địa giới hành chính nhưng độc lập với hệ thống cơ quan hành chính và cơ quan Toà án, bao gồm: Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân các cấp ở địa phương (đặt ở 3 cấp hành chính là: tỉnh, thành phố và huyện) và Viện kiểm sát chuyên ngành. Viện kiểm sát nhân dân tối cao là cơ quan kiểm sát cao nhất của nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa; Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao do cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất (Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc) bầu ra và chịu trách nhiệm trước cơ quan này. Chế độ lãnh đạo trong ngành kiểm sát được thực hiện là chế độ lãnh đạo theo ngành dọc, Viện kiểm sát địa phương phải phục tùng sự lãnh đạo của Viện kiểm sát cấp trên và của Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Viện trưởng Viện kiểm sát địa phương do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao bổ nhiệm.
Trong quá trình xây dựng Hiến pháp năm 1954 (Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước Trung Hoa) và Luật tổ chức Viện kiểm sát năm 1954, khi bàn về Viện kiểm sát, có quan điểm cho rằng cần quy định Viện kiểm sát chịu chế độ lãnh đạo song trùng (phụ thuộc vào Viện kiểm sát nhân dân cấp trên và các cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương). Tuy nhiên, Hiến pháp và Luật tổ chức Viện kiểm sát năm 1954 được ban hành vẫn giữ nguyên nguyên tắc lãnh đạo trong ngành kiểm sát là Viện kiểm sát địa phương chỉ phục tùng sự lãnh đạo của Viện kiểm sát cấp trên và sự lãnh đạo thống nhất của Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Vào những năm cuối của thập niên 50, nhiều ý kiến cho rằng phải xem lại các quy định về Viện kiểm sát trong Hiến pháp. Thậm chí, còn xuất hiện quan điểm mạnh mẽ hơn, cho rằng cần bỏ cơ quan kiểm sát và quyền kiểm sát. Kết quả là vào năm 1961, Trung Quốc đã bắt đầu thực hiện việc nhập cơ quan kiểm sát vào cơ quan công an và đến năm 1968, hệ thống cơ quan viện kiểm sát Trung Quốc chính thức bị bãi bỏ. Hiến pháp năm 1975 của Trung Quốc quy định rõ “chức năng của cơ quan kiểm sát do cơ quan công an thực hiện”. Thực chất, cơ quan công an chỉ đảm nhiệm thêm chức năng công tố mà cụ thể là truy tố kẻ phạm tội ra toà, còn các nhiệm vụ khác của cơ quan kiểm sát không có cơ quan nào đảm nhiệm.
Từ năm 1976, Cách mạng văn hoá chấm dứt, mở ra kỷ nguyên tái thiết luật pháp ở Trung Quốc. Cơ quan Viện kiểm sát ở Trung Quốc được khôi phục trở lại. Sự khôi phục cơ quan kiểm sát được đánh dấu bằng Hiến pháp năm 1978, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1979, và sau đó, được tiếp tục được khẳng định trong Hiến pháp năm 1982, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1983, 1995. Theo các quy định này, hệ thống cơ quan Viện kiểm sát được thành lập ở trung ương và ở các địa phương (đến cơ quan hành chính cấp thứ tư), độc lập với cơ quan Toà án, có chức năng giám sát việc chấp hành pháp luật. So với Hiến pháp và Luật tổ chức Viện kiểm sát năm 1954, quy định về Viện kiểm sát theo Hiến pháp năm 1982, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1983 có nhiều thay đổi, thể hiện ở những điểm lớn sau:
Thứ nhất, khẳng định chế độ lãnh đạo song trùng, theo đó, các Viện kiểm sát nhân dân địa phương do Viện kiểm sát nhân dân cấp trên và Đại hội đại biểu nhân dân địa phương lãnh đạo.
Thứ hai, thu hẹp chức năng, thẩm quyền của cơ quan kiểm sát đối với các vụ án dân sự và quyền giám sát đối với tố tụng hành chính, kinh tế, xã hội; Viện kiểm sát tập trung chủ yếu vào giải quyết các vụ án hình sự.
Thứ ba, tăng cường vai trò, trách nhiệm của cơ quan kiểm sát trong việc giám sát, điều tra, truy tố; Viện kiểm sát chịu trách nhiệm điều tra các vụ án tham nhũng và tội phạm chức vụ.
2. Vị trí, chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa
2.1. Vài nét về tổ chức nhà nước của nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa
Mặc dù Trung Quốc là một quốc gia đa đảng nhưng từ khi lãnh đạo cách mạng thành công và thành lập nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa (1949), Đảng Cộng sản Trung Quốc là đảng duy nhất lãnh đạo cách mạng Trung Quốc. Từ đó đến nay, mặc dù có những thăng trầm nhưng Trung Quốc vẫn trung thành với những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác trong việc tổ chức bộ máy nhà nước của mình.
Bộ máy nhà nước của Cộng hoà nhân dân Trung Hoa được tổ chức theo nguyên tắc tập quyền xã hội chủ nghĩa như các nước xã hội chủ nghĩa trước kia chứ không theo nguyên tắc phân quyền (thường được gọi là “tam quyền phân lập”) như đa số quốc gia trên thế giới. Toàn bộ quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân mà đại diện là Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc (Quốc hội) và Đại hội đại biểu nhân dân địa phương (Hội đồng nhân dân). Đây là những cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Chính phủ được xác định là cơ quan chấp hành, cơ quan hành chính cao nhất. Toà án là cơ quan xét xử và Viện kiểm sát là cơ quan giám sát pháp luật. Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Toà án tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát tối cao đều do Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc bầu ra, theo nhiệm kỳ của Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc và chịu trách nhiệm trước cơ quan này. Các cơ quan nhà nước này chỉ phối hợp với nhau chứ không có chức năng giám sát lẫn nhau như trong cơ chế phân quyền. Mô hình tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước của Trung Quốc tương tự như mô hình của nước ta hiện nay.
2.2. Vị trí, chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa
2.2.1. Vị trí
Ở Trung Quốc, Viện kiểm sát không thuộc Chính phủ như đa số quốc gia trên thế giới, mà là một hệ thống cơ quan riêng biệt. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc bầu ra và chịu trách nhiệm trước cơ quan này. Viện kiểm sát được coi là cơ quan tư pháp chứ không phải là cơ quan hành pháp. Các Viện kiểm sát địa phương không thuộc hệ thống các cơ quan hành chính ở địa phương nhưng lại chịu sự giám sát của Đại hội đại biểu nhân dân địa phương-cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương.
2.2.2. Chức năng, nhiệm vụ
Điều 129 Hiến pháp nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa quy định “Viện kiểm sát nhân dân Trung hoa là cơ quan giám sát pháp luật của Nhà nước…”. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp, Điều 5 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân đã quy định cụ thể chức năng, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân như sau:
(1) Thực hiện quyền kiểm sát đối với các vụ án phản quốc, chia rẽ đất nước và các vụ án phạm tội to lớn, phá hoại nghiêm trọng việc thực hiện thống nhất chính sách, pháp luật, pháp lệnh, quy chế hành chính của Nhà nước.
(2) Tiến hành điều tra đối với các vụ án hình sự được trực tiếp thụ lý.
(3) Kiểm sát việc điều tra vụ án hình sự do cơ quan công an tiến hành; quyết định việc bắt giữ, truy tố hoặc miễn tố đối với các vụ án do cơ quan công an điều tra; thực hiện việc giám sát xem hoạt động điều tra của cơ quan công an có hợp pháp hay không.
(4) Khởi tố và hỗ trợ truy tố đối với các vụ án hình sự; thực hiện giám sát hoạt động xét xử của Toà án nhân dân xem có tuân thủ đúng pháp luật hay không.
(5) Thực hiện giám sát đối với việc chấp hành phán quyết và quyết định của các vụ án hình sự, hoạt động của trại giam, nơi tạm giam và cơ quan cải tạo lao động có hợp pháp hay không.
Ngoài ra, Viện kiểm sát nhân dân còn kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc bảo vệ quyền tố cáo của công dân đối với các nhân viên nhà nước vi phạm pháp luật, truy cứu trách nhiệm pháp luật đối với những người xâm phạm quyền thân thể, quyền dân chủ và các quyền khác của công dân (Điều 6).
Khác với nước ta, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân của nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa không quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát cũng như của kiểm sát viên mà trên cơ sở những quy định trên, trong từng lĩnh vực cụ thể, các văn bản pháp luật chuyên ngành (Luật tố tụng hình sự, Luật tố tụng dân sự… ) sẽ quy định cụ thể về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát và kiểm sát viên trong các lĩnh vực đó.
Trong hoạt động tố tụng hình sự, Viện kiểm sát nhân dân có những nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể sau đây:
- Kiểm sát điều tra: Viện kiểm sát có nhiệm vụ kiểm sát việc khởi tố của cơ quan công an; phê chuẩn lệnh bắt giữ của cơ quan công an; kiểm sát việc chấp hành pháp luật trong hoạt động điều tra của cơ quan công an và điều tra viên... bảo đảm việc điều tra được thực hiện đúng pháp luật; khắc phục tình trạng bắt giữ trái phép, ép cung, bức cung, hãm hại báo thù, khám xét trái phép, xâm phạm thân thể, quyền dân chủ của công dân...
- Viện kiểm sát nhân dân trực tiếp điều tra các tội phạm tham nhũng, chủ yếu là điều tra các tội tham ô, nhận hối lộ, lợi dụng chức vụ quyền hạn để phạm tội vì vụ lợi, cán bộ cơ quan nhà nước không làm tròn nhiệm vụ, lợi dụng chức quyền, xâm phạm quyền dân chủ của công dân…
Viện kiểm sát nhân dân các cấp đều có một bộ phận làm nhiệm vụ điều tra tội phạm tham nhũng. Tương tự như các nước khác, những người này là kiểm sát viên chứ không phải là điều tra viên như ở nước ta. Trong hoạt động điều tra, họ có quyền yêu cầu cơ quan công an và các cơ quan chuyên môn khác hỗ trợ khi cần thiết.
- Truy tố người phạm tội ra trước Toà án để xét xử, luận tội và đưa ra mức hình phạt.
- Kiểm sát xét xử hình sự: giám sát tính hợp pháp trong các phán quyết và quyết định của Toà án nhân dân, kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án, nếu phát hiện có vi phạm pháp luật.
Trong hoạt động tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ giám sát pháp luật đối với các hoạt động xét xử (Điều 14 Luật tố tụng dân sự). Trên thực tế, Viện kiểm sát nhân dân chỉ tập trung kiểm sát các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, nếu phát hiện bản án, quyết định đó có vi phạm pháp luật, gây thiệt hại nghiêm trọng cho lợi ích xã hội thì kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm để yêu cầu Toà án xét xử lại theo trình tự giám đốc thẩm. Khi xét xử lại, Viện kiểm sát bắt buộc phải tham gia phiên toà (Điều 188 Luật tố tụng dân sự).
Trong lĩnh vực giam, giữ và cải tạo, Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ giám sát việc chấp hành pháp luật trong việc giam, giữ và cải tạo. Các Viện kiểm sát cơ sở (quận, huyện) có bộ phận biệt phái tại nơi tạm giữ, tạm giam và cải tạo để thường xuyên giám sát việc chấp hành pháp luật của cơ quan công an.
Trong lĩnh vực thi hành án, Viện kiểm sát có nhiệm vụ giám sát việc tuân thủ pháp luật của cơ quan thi hành án hình sự và cơ quan thi hành án dân sự, bảo đảm việc thi hành án của cơ quan thi hành án đúng pháp luật.
3. Cơ cấu tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân
Điều 130 Hiến pháp quy định: “Nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa thành lập Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân địa phương các cấp, Viện kiểm sát quân sự và Viện kiểm sát nhân dân chuyên ngành khác”.
Trên cơ sở quy định của Hiến pháp, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân Trung Hoa quy định hệ thống, cơ cấu tổ chức Viện kiểm sát Trung Hoa như sau:
3.1. Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Viện kiểm sát nhân dân tối cao là cơ quan kiểm sát cao nhất của Nhà nước, có chức năng giám sát pháp luật và lãnh đạo Viện kiểm sát địa phương các cấp, Viện kiểm sát chuyên ngành trong việc thực hiện chức năng giám sát pháp luật nhằm bảo đảm việc thực hiện pháp luật được đúng đắn và thống nhất.
Để thực hiện chức năng này, Viện kiểm sát nhân dân tối cao có những nhiệm vụ chủ yếu sau đây:
- Chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc và Uỷ ban Thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc;
- Đệ trình các dự án pháp luật tới Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc và Uỷ ban thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc;
- Lãnh đạo các Viện kiểm sát địa phương và Viện kiểm sát chuyên ngành trong việc thực hiện công tác kiểm sát, xây dựng cơ chế hoạt động kiểm sát;
- Tiến hành điều tra các vụ án phức tạp như tham nhũng, hối lộ, xâm phạm quyền dân chủ của công dân, các vụ thiếu trách nhiệm, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để vụ lợi và những vụ án khác mà cần thiết phải được thông qua và xem xét một cách trực tiếp; Lãnh đạo các Viện kiểm sát địa phương và Viện kiểm sát chuyên ngành trong việc tiến hành hoạt động điều tra;
- Xem xét và phê chuẩn việc bắt và khởi tố bị can theo quy định của pháp luật, chỉ đạo Viện kiểm sát địa phương và Viện kiểm sát chuyên ngành trong việc xem xét, phê chuẩn việc bắt kẻ tình nghi phạm tội và khởi tố bị can;
- Chỉ đạo Viện kiểm sát địa phương và Viện kiểm sát chuyên ngành trong hoạt động giám sát việc xét xử các vụ án hình sự, dân sự, kinh tế, hành chính theo quy định của pháp luật;
- Đối với các bản án, quyết định của Toà án các cấp đã có hiệu lực pháp luật nhưng phát hiện có sai lầm thì có quyền kháng nghị lên Toà án nhân dân tối cao;
- Kiểm tra các quyết định của Viện kiểm sát địa phương và Viện kiểm sát chuyên ngành trong việc thực hiện quyền kiểm sát, có quyền sửa lại các quyết định không đúng pháp luật;
- Đề xuất các phương án cải cách hệ thống cơ quan kiểm sát trên toàn quốc, tiến hành việc cải cách hệ thống cơ quan kiểm sát sau khi được cơ quan có thẩm quyền thông qua phương án cải cách; lập kế hoạch và hướng dẫn kỹ năng kiểm sát, đưa vào thử nghiệm, đánh giá và áp dụng trên toàn quốc;
- Giải thích pháp luật trong lĩnh vực công tác kiểm sát;
- Xây dựng điều lệ, quy chế, quy định những điều khoản chi tiết trong công tác kiểm sát;
- Thực hiện quyền quản lý về nhân sự đối với các Viện kiểm sát cấp dưới, xác định biên chế của các Viện kiểm sát nhân dân địa phương và các Viện kiểm sát chuyên ngành;
- Đệ trình Uỷ ban thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc về việc bổ nhiệm, miễn nhiệm Viện trưởng cấp tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộc trung ương, Viện trưởng Viện kiểm sát chuyên ngành; đề nghị với Uỷ ban thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc miễn nhiệm và thay thế Viện trưởng, Phó Viện trưởng, Uỷ viên Uỷ ban kiểm sát Viện kiểm sát các cấp thấp hơn;
- Tổ chức và hướng dẫn công tác giáo dục, đào tạo trong các cơ sở đào tạo của ngành kiểm sát và với các cán bộ kiểm sát;
- Xây dựng kế hoạch và hướng dẫn hoạt động lập kế hoạch, đầu tư tài chính, trang thiết bị của hệ thống cơ quan kiểm sát;
- Thực hiện hoạt động hợp tác quốc tế, thực hiện các hoạt động tương trợ tư pháp; kiểm tra và thông qua kế hoạch điều tra các vụ án liên quan đến quan hệ hợp tác với Hồng Kông, Ma Cao, Đài Loan…
Các đơn vị thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao bao gồm:
- Văn phòng;
- Ban Chính trị;
- Tổng cục chống tham nhũng;
- Vụ kiểm sát hình sự;
- Vụ kiểm sát giam giữ;
- Vụ kiểm sát hành chính, dân sự;
- Vụ kiểm sát khiếu nại, tố cáo;
- Vụ kiểm sát thi hành án;
- Trung tâm thông tin;
- Vụ kiểm sát vận tải đường sắt;
- Cục kỹ thuật kiểm sát;
- Viện nghiên cứu chính sách, pháp luật;
- Cục thanh tra;
- Cục giáo dục rèn luyện cán bộ;
- Cục đối ngoại;
- Cục kế hoạch tài vụ và trang thiết bị;
- Cục quản lý hành chính sự vụ;
- Cục cán bộ lão thành.
Ngoài ra, còn có các đơn vị trực thuộc như: Nhà xuất bản kiểm sát, Báo kiểm sát, Viện nghiên cứu lý luận kiểm sát, Viện nghiên cứu khoa học kĩ thuật kiểm sát, Học viện bồi dưỡng cán bộ kiểm sát cao cấp…
Viện kiểm sát nhân dân tối cao thành lập Uỷ ban kiểm sát. Uỷ ban kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực hiện chế độ làm việc tập thể, thảo luận các vụ án quan trọng và các vấn đề quan trọng khác, dưới sự chủ trì của Viện trưởng. Uỷ ban kiểm sát quyết định theo đa số. Nếu ý kiến của Viện trưởng khác với ý kiến của đa số về các vấn đề quan trọng có thể báo cáo Uỷ ban thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân quyết định.
Nhân sự của Viện kiểm sát nhân dân tối cao bao gồm: Viện trưởng, các Phó Viện trưởng, uỷ viên Uỷ ban kiểm sát, kiểm sát viên, trợ lý kiểm sát viên, thư ký, cảnh sát tư pháp và các nhân viên hành chính, nhân viên hậu cần, kỹ thuật.
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc bầu và bãi miễn; nhiệm kỳ của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao trùng với nhiệm kỳ của Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc, nhưng không quá hai nhiệm kỳ. Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Uỷ viên Uỷ ban kiểm sát, kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự Trung ương do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị Uỷ ban thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc bổ nhiệm và bãi miễn.
3.2. Viện kiểm sát nhân dân các cấp ở địa phương
Viện kiểm sát nhân dân các cấp ở địa phương bao gồm:
Viện kiểm sát nhân dân các cấp ở địa phương gồm: Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộc trung ương (cấp thứ 2); Viện kiểm sát nhân dân thành phố thuộc tỉnh, châu tự trị… (cấp thứ 3); Viện kiểm sát nhân dân huyện, khu trực thuộc thành phố (cấp cơ sở).
Nhân sự của Viện kiểm sát nhân dân địa phương các cấp bao gồm: Viện trưởng, Phó Viện trưởng, uỷ viên Uỷ ban kiểm sát, kiểm sát viên, trợ lý kiểm sát viên, thư ký, cảnh sát tư pháp và các nhân viên hành chính, nhân viên hậu cần, kỹ thuật.
Viện kiểm sát nhân dân các cấp ở địa phương thành lập Uỷ ban kiểm sát. Uỷ ban kiểm sát thực hiện chế độ làm việc tập trung dân chủ, dưới sự chủ trì của Viện trưởng, thảo luận các vụ án quan trọng và các vấn đề quan trọng khác, quyết định theo nguyên tắc thiểu số phục tùng đa số. Nếu ý kiến của Viện trưởng khác với ý kiến của đa số về các vấn đề quan trọng có thể báo cáo Uỷ ban thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân cùng cấp quyết định.
3.3. Viện kiểm sát chuyên ngành
Viện kiểm sát chuyên ngành là cơ quan kiểm sát đặc biệt được thành lập trong hệ thống tổ chức ngành kiểm sát. Trong những năm 1980, ở Trung Quốc tồn tại 3 viện kiểm sát chuyên ngành là: Viện kiểm sát vận tải, Viện kiểm sát đường sắt và Viện kiểm sát quân sự. Hiện nay, chỉ còn tồn tại Viện kiểm sát quân sự và Viện kiểm sát đường sắt trong hệ thống Viện kiểm sát chuyên ngành. Viện kiểm sát quân sự là cơ quan giám sát pháp luật chuyên môn được thành lập trong Quân giải phóng nhân dân Trung Hoa, thực hiện quyền kiểm sát đối với tội phạm trong lĩnh vực quân sự và các vụ án phạm tội hình sự khác do quân nhân tại ngũ thực hiện. Trong hoạt động của mình, Viện kiểm sát quân sự chịu sự lãnh đạo của Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Tổng cục Chính trị quân giải phóng nhân dân Trung Hoa. Viện kiểm sát đường sắt chịu trách nhiệm giám sát pháp luật trong lĩnh vực đường sắt.
4. Cán bộ của Viện kiểm sát nhân dân
4.1. Tiêu chuẩn kiểm sát viên
Kiểm sát viên là chức danh pháp lý chủ yếu trong Viện kiểm sát nhân dân, người thực thi chủ yếu các nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân. Theo Luật cán bộ kiểm sát nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa (Điều 10), để có thể trở thành kiểm sát viên cần có đủ các tiêu chuẩn sau đây:
- Có quốc tịch Cộng hoà nhân dân Trung Hoa;
- Tán thành Hiến pháp nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa;
- Tròn 23 tuổi;
- Có tố chất chính trị, nghiệp vụ và phẩm chất đạo đức tốt đẹp (chưa từng bị kết án hình sự hoặc bị khai trừ khỏi chức vụ);
- Khoẻ mạnh;
- Tốt nghiệp ngành luật của trường đại học hoặc tốt nghiệp trường đại học không thuộc ngành luật nhưng có kiến thức chuyên ngành luật và đã công tác tròn 2 năm hoặc đã có bằng đại học luật và công tác tròn 1 năm. Người có bằng thạc sĩ, tiến sĩ luật thì không bị hạn chế bởi thời gian công tác nói trên.
Nhân viên kiểm sát trước khi thi hành luật này, nếu không đủ điều kiện quy định về trình độ nêu trên thì phải được đào tạo, bồi dưỡng theo quy định của Viện kiểm sát nhân dân tối cao
4.2. Cơ chế bổ nhiệm, miễn nhiệm
Theo quy định của Hiến pháp và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân Trung Hoa, việc bầu, bổ nhiệm, bãi miễn Viện trưởng, Phó Viện trưởng, uỷ viên Uỷ ban kiểm sát, kiểm sát viên, trợ lý kiểm sát viên… Viện kiểm sát nhân dân được quy định như sau:
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc bầu và bãi miễn.
Nhiệm kỳ của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao trùng với nhiệm kỳ của Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc. Nếu tiếp tục được bầu, nhiệm kỳ của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao cũng không được vượt quá 2 nhiệm kỳ.
Uỷ ban thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc căn cứ vào đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao bổ nhiệm Phó Viện trưởng, uỷ viên Uỷ ban kiểm sát, kiểm sát viên của Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương.
Đại hội đại biểu nhân dân các cấp ở địa phương bầu và bãi miễn Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp. Việc bầu hoặc bãi miễn Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân các cấp ở địa phương phải báo cáo lên Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp trên để đề nghị Uỷ ban thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân cấp đó phê chuẩn.
Phó Viện trưởng, uỷ viên Uỷ ban kiểm sát, kiểm sát viên của Viện kiểm sát nhân dân các cấp ở địa phương do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp đề nghị Uỷ ban thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân cấp đó bổ nhiệm và miễn nhiệm.
Nhiệm kỳ của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân các cấp ở địa phương trùng với nhiệm kỳ của Đại hội đại biểu nhân dân cùng cấp. Nếu tiếp tục được bầu, nhiệm kỳ của Viện trưởng cũng không được vượt quá 2 nhiệm kỳ.
Uỷ ban thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc, tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộc trung ương căn cứ vào đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có thể bãi bỏ, thay thế Viện trưởng, Phó Viện trưởng, uỷ viên Uỷ ban kiểm sát của Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới.
Trợ lý kiểm sát viên và thư ký của Viện kiểm sát nhân dân các cấp do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp bổ nhiệm, miễn nhiệm. Sau khi được Viện trưởng phê chuẩn, trợ lý kiểm sát viên có thể làm thay nhiệm vụ của kiểm sát viên.
5. Nội dung cải cách cơ quan Viện kiểm sát ở Trung Quốc trong thời gian tới
Một là, hoàn thiện chế độ giám sát nhân dân đối với hoạt động của Viện kiểm sát. Thực tế hoạt động điều tra, truy tố các vụ án tham nhũng, các vụ án lợi dụng chức vụ quyền hạn để phạm tội của Viện kiểm sát đã được Đảng, nhà nước và nhân dân đánh giá cao. Bên cạnh đó, dư luận xã hội cũng đánh giá quyền lực của Viện kiểm sát là rất lớn, song hoạt động điều tra của Viện kiểm sát đối với những vụ án này còn thiếu sự giám sát để bảo đảm quá trình điều tra, truy tố tuân thủ chặt chẽ các quy định của pháp luật. Hiện nay, pháp luật chưa quy định cơ chế giám sát hữu hiệu đối với hoạt động của Viện kiểm sát, do vậy phải tăng cường hoạt động giám sát của các cơ quan có thẩm quyền, của nhân dân. Chẳng hạn khi Viện kiểm sát đình chỉ vụ án, không truy tố người bị tình nghi ra trước Toà án để xét xử thì đòi hỏi phải có sự giám sát của nhân dân và sự giám sát của bản thân nội bộ Viện kiểm sát v.v… Quá trình cải cách đòi hỏi phải nâng cao trách nhiệm đối với các Viện kiểm sát và cán bộ, kiểm sát viên trong thực thi nhiệm vụ, phải thực hiện chế độ công khai hoá mọi hoạt động công tác của kiểm sát viên khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ.
Hai là, tăng cường chức năng giám sát các hoạt động tố tụng (khởi tố, bắt, giữ, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án) bảo đảm quyền dân chủ của nhân dân, bảo đảm sự tuân thủ nghiêm chỉnh pháp luật, kiên quyết chống những hành vi vi phạm quyền dân chủ của công dân, vi phạm nhân quyền. Khắc phục tình trạng có nhiều vụ án cơ quan điều tra không phát hiện, khởi tố do vậy còn bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, các cơ quan quản lý cũng có xu hướng không xử lý hình sự mà giữ lại để xử lý hành chính, do vậy phát hiện được vi phạm nhưng không chuyển cho cơ quan điều tra để điều tra, xử lý mà muốn giữ lại để xử lý nội bộ.
Viện kiểm sát phải nâng cao chất lượng công tác điều tra, xử lý các tội phạm tham nhũng, các tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn để vụ lợi của cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước.
Tăng cường phát hiện vi phạm của cơ quan điều tra trong hoạt động điều tra, nhất là các hành vi bức cung, nhục hình, xử lý nghiêm minh đối với các trường hợp bức cung, nhục hình, vi phạm quyền dân chủ của công dân.
Tăng cường giám sát, quản lý chặt chẽ án tử hình bảo đảm thủ tục thi hành án đúng pháp luật.
Ba là, tăng cường chế độ giám sát trong nội bộ các hoạt động của Viện kiểm sát các cấp, bảo đảm hoạt động kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử được tiến hành khoa học và chặt chẽ. Thực hiện nhất thể hoá các thao tác nghiệp vụ trong công tác kiểm sát khởi tố, kiểm sát điều tra. Tăng cường sự quản lý chỉ đạo đối với hoạt động khởi tố, điều tra của cơ quan điều tra. Tập trung giải quyết triệt để những vụ án trọng điểm, phức tạp.
Thực hiện quy phạm hoá các thao tác nghiệp vụ, bảo đảm mọi hoạt động nghiệp vụ thống nhất.
Bốn là, hoàn thiện hệ thống tổ chức của Viện kiểm sát. Tăng cường quản lý của Viện trưởng các cấp đối với cán bộ, kiểm sát viên thuộc quyền. Thực hiện nghiêm túc chế độ tuyển dụng công khai thông qua thi tuyển. Cán bộ, kiểm sát viên cấp trên phải được lựa chọn từ cán bộ, kiểm sát viên ưu tú của Viện kiểm sát cấp dưới. Thực hiện chế độ phân loại cán bộ kiểm sát theo ba loại: cán bộ nghiệp vụ, cán bộ hành chính và cán bộ chuyên môn kỹ thuật. Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, kiểm sát viên, bảo đảm cho cán bộ, kiểm sát viên có khả năng độc lập trong thực hiện nhiệm vụ được giao.
Có chế độ đãi ngộ thoả đáng để thu hút nhân tài cho ngành kiểm sát và thu hút cán bộ đến công tác ở những vùng khó khăn (miền Tây Trung Quốc).
Năm là, tăng cường hiện đại hoá trang thiết bị, phương tiện làm việc để nâng cao chất lượng, hiệu quả các khâu công tác kiểm sát (trang bị máy vi tính cho tất cả cán bộ kiểm sát), sử dụng các phương tiện khoa học kỹ thuật để phục vụ công tác kiểm sát, nối mạng trong hệ thống Viện kiểm sát toàn quốc, tin học hoá hoạt động kiểm sát, mọi hoạt động từ khởi tố, bắt giữ, điều tra, truy tố đều được đưa lên mạng để giám sát, kiểm tra hoạt động trong nội bộ cơ quan Viện kiểm sát.
Sáu là, cải cách thể chế quản lý và phân phối tài chính trong ngành kiểm sát. Theo quy định, tài chính của các Viện kiểm sát địa phương do địa phương phân bổ và vì vậy, các Viện kiểm sát cấp cơ sở và Viện kiểm sát miền núi hiện nay cũng gặp rất nhiều khó khăn về tài chính. Trong quá trình cải cách, nhà nước từng bước thực hiện đưa kế hoạch kinh phí nghiệp vụ của Viện kiểm sát vào ngân sách địa phương. Từng bước nghiên cứu định ra tiêu chuẩn, tài chính cơ bản để giải quyết khó khăn về tài chính trong các cơ quan Viện kiểm sát, nhất là Viện kiểm sát cấp cơ sở.
Tài liệu tham khảo:
1. Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa năm 1979, được sửa đổi năm 1983.
2. Luật cán bộ kiểm sát nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa năm 1995.
3. Quy tắc tố tụng hình sự Viện kiểm sát nhân dân năm 1997, được sửa đổi năm 1998.
4. Luật tố tụng dân sự nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa năm 1991
5. Sổ tay kiểm sát viên hình sự Trung Quốc, tập 1 và tập 2 do Viện kiểm sát nhân dân tối cao (Dự án VIE/95/018) xuất bản năm 2000.
6. Báo cáo chuyên đề của Tiến sĩ Diệp Phong, Cục trưởng Cục Hợp tác quốc tế, Viện kiểm sát nhân dân tối cao Trung Quốc tại Hội thảo quốc tế về “Cải cách tư pháp ở Trung Quốc và kinh nghiệm công tố” do Viện kiểm sát nhân dân tối cao tổ chức tại Hà Nội, tháng 12/2004.
7. Báo cáo của Đoàn khảo sát của Viện kiểm sát nhân dân tối cao tại Trung Quốc tháng 11/1997 và tháng 10/2005.
VIỆN KIỂM SÁT LIÊN BANG NGA
TS. Nguyễn Ngọc Khánh
Viện khoa học kiểm sát - VKSND tối cao
1. Khái lược về lịch sử hình thành và mô hình tổ chức, vị trí, vai trò của Viện kiểm sát Liên bang Nga
Nếu như ở Pháp, lịch sử hình thành Viện Công tố Pháp gắn liền với tên tuổi của một vị hoàng đế nổi tiếng (Viện Công tố Pháp được thành lập đầu tiên theo đạo dụ ngày 25/3/1302 của vua Pháp Philíp IV), thì ở Nga, sự ra đời của Viện kiểm sát cũng được gắn với tên tuổi của một vị hoàng đế không kém phần nổi tiếng - đó là Sa hoàng Pie đại đế. Áp dụng mô hình Viện Công tố Pháp, ngày 12 tháng 3 năm 1722, Pie đại đế ban hành Sắc lệnh thiết lập một tổ chức kiểm sát hữu hiệu có chức năng giám sát các chính quyền địa phương ở đế chế Nga rộng lớn, theo đó ở mỗi tỉnh lỵ đều có đại diện của chính quyền trung ương do chính quyền trung ương cử ra để giám sát sự quản lý của bộ máy hành chính địa phương, và tổ chức đó được coi như “con mắt của Sa hoàng” (về sau, ngày 12/3/1722 đã được Tổng thống Liên bang Nga B. Enxin tuyên bố là “Ngày Kiểm sát viên Nga”). Sau đó, vào năm 1864, mô hình trên được thay thế bởi chế định Viện kiểm sát (cũng theo mô hình của Pháp) với chức năng duy nhất là truy cứu trách nhiệm hình sự và duy trì quyền công tố tại phiên tòa. Hệ thống cơ quan Viện kiểm sát trên sau này bị coi là sản phẩm của Nga hoàng và bị xóa bỏ vào năm 1918 - không lâu sau cách mạng tháng Mười Nga (khi đó, duy trì quyền công tố tại phiên tòa không phải là Kiểm sát viên mà là thành viên Hội đồng công tố trực thuộc các tổ chức đảng ở địa phương). Được thành lập lại vào năm 1922, thực chất là áp dụng mô hình kiểm sát từ trước năm 1864, hệ thống cơ quan Viện kiểm sát ở Liên Xô có chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của chính quyền hành pháp, các Xô viết địa phương, các tổ chức kinh tế, tổ chức quần chúng, hệ thống Tòa án. Mục đích của việc thực hiện chức năng kiểm sát là để đảm bảo pháp luật được tuân thủ, thi hành nghiêm chỉnh và thống nhất. Từ đó, cấu trúc của Viện kiểm sát Nga về cơ bản được giữ nguyên cho đến ngày hôm nay và được khẳng định trong các Hiến pháp 1936, 1977, 1993 và Luật Liên bang về Viện kiểm sát Liên bang Nga năm 1995 (được Đu ma quốc gia Liên bang Nga thông qua ngày 18 tháng 10 năm 1995 và được Tổng thống Liên bang Nga công bố ngày 17 tháng 11 năm 1996).
Viện kiểm sát Liên bang Nga là một cơ quan có vị trí riêng biệt (với các cơ quan hành pháp và tư pháp), được xây dựng theo nguyên tắc “tập trung thống nhất, trên cơ sở các Kiểm sát viên cấp dưới phải phục tùng các Kiểm sát viên cấp trên và tất cả đều phục tùng Tổng kiểm sát trưởng Liên bang Nga” và “hoàn toàn độc lập với các cơ quan, công dân, tổ chức”, theo đó các cơ quan thuộc Viện kiểm sát được “thực hiện các thẩm quyền của mình một cách độc lập với các cơ quan quyền lực của liên bang, của các chủ thể liên bang, của các chính quyền địa phương và các tổ chức xã hội” (Điều 4 Luật Liên bang về Viện kiểm sát Liên bang Nga năm 1996 - sau đây gọi tắt là Luật VKS Nga 1996).
Để bảo đảm tính độc lập cho các cơ quan Viện kiểm sát, Luật liên bang quy định không cho phép can thiệp vào việc thực hiện công tác kiểm sát. Tại Điều 5 Luật VKS Nga 1996 nhấn mạnh: việc tác động dưới bất cứ hình thức nào của các cơ quan quyền lực liên bang, của các chủ thể liên bang, của các chính quyền địa phương, của các tổ chức xã hội, và của các phương tiện thông tin đại chúng đến các Kiểm sát viên hay Dự thẩm viên nhằm gây ảnh hưởng đến các quyết định của họ hoặc cản trở hoạt động của họ đều phải chịu trách nhiệm theo luật định.
Về chức năng, nhiệm vụ, Viện kiểm sát Liên bang Nga có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật (trong đó chức năng kiểm sát chung đã bị thu hẹp về phạm vi, cụ thể là: Viện kiểm sát không thực hiện kiểm sát việc tuân theo pháp luật đối với Chính phủ Liên bang Nga, các tổ chức xã hội, đảng phái chính trị, công dân cũng như không kiểm sát hoạt động xét xử của Tòa án và những người tham gia tố tụng trong tố tụng dân sự và tố tụng hình sự nữa.)
Trong tố tụng hình sự, Viện kiểm sát Liên bang Nga có nhiệm vụ:
- Kiểm sát việc chấp hành pháp luật của các cơ quan tiến hành các hoạt động trinh sát nghiệp vụ, các cơ quan điều tra ban đầu và điều tra dự thẩm;
- Kiểm sát việc chấp hành pháp luật của các cơ quan có thẩm quyền thi hành các hình phạt và các biện pháp cưỡng chế khác do Toà án tuyên phạt, của Ban giám thị các trại tạm giữ, tạm giam;
- Điều tra các vụ án hình sự theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự Liên bang Nga. Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự Liên bang Nga, Dự thẩm viên của Viện kiểm sát được giao thẩm quyền điều tra đối với rất nhiều loại tội phạm khác nhau (khoảng hơn 80 loại tội được quy định trong Bộ luật hình sự Liên bang Nga) và tất cả các loại tội phạm do một số chủ thể đặc biệt thực hiện (như đại biểu các cơ quan lập pháp, Kiểm sát viên, Dự thẩm viên, Thẩm phán, Luật sư, những người có chức vụ, quyền hạn của các cơ quan An ninh, Tình báo, Nội vụ…, kể cả Tổng thống Liên bang Nga đã từ nhiệm);
- Trong giai đoạn xét xử vụ án, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố nhà nước, bảo đảm việc buộc tội có căn cứ và đúng pháp luật. Viện kiểm sát không thực hiện việc giám sát hoạt động xét xử của Toà án.
Trong tố tụng dân sự, Điều 45 Bộ luật tố tụng dân sự Liên bang Nga năm 2002 quy định hai hình thức tham gia của Kiểm sát viên:
- Thứ nhất, Kiểm sát viên có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án bảo vệ quyền, tự do và lợi ích hợp pháp của công dân, của tập hợp người không xác định, lợi ích của Liên bang Nga, chủ thể Liên bang Nga, các tổ chức tự quản địa phương.
Khi khởi kiện, Kiểm sát viên có quyền và nghĩa vụ tố tụng như nguyên đơn, trừ quyền hoà giải và nghĩa vụ trả lệ phí.
- Thứ hai, Kiểm sát viên tham gia vào tiến trình tố tụng (do người khác khởi kiện) và phát biểu kết luận đối với những vụ án liên quan đến việc buộc đi ở nơi khác, yêu cầu khôi phục việc làm, yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại do bị xâm phạm tính mạng hoặc sức khoẻ hoặc trong những trường hợp khác do Bộ luật tố tụng dân sự và Luật liên bang quy định.
Tuy nhiên, cần lưu ý là, dù tham gia tố tụng dân sự dưới hình thức nào thì việc tham gia của Kiểm sát viên không phải là để bảo vệ lợi ích của riêng Viện kiểm sát mà là nhân danh Liên bang Nga để bảo vệ lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng cũng như lợi ích của một số người khác và của tập hợp người không xác định, vì lợi ích của những người này cũng có tính chất công và mang ý nghĩa xã hội. Cùng với sự tham gia của Kiểm sát viên trong tố tụng hình sự, sự tham gia của Kiểm sát viên trong tố tụng dân sự là sự tiếp tục khẳng định mục đích hoạt động của Viện kiểm sát Liên bang Nga là “bảo đảm tính tối cao của luật pháp, sự thống nhất và củng cố pháp chế, bảo vệ quyền tự do và các quyền khác của con người và của công dân, cũng như các lợi ích của xã hội và Nhà nước được luật pháp bảo vệ” (khoản 2 Điều 1 Luật VKS Nga 1996).
Ngoài những chức năng, nhiệm vụ chủ yếu nêu trên, theo quy định của Luật VKS Nga 1996, Viện kiểm sát Liên bang Nga còn thực hiện một số chức năng, nhiệm vụ khác như: chủ trì phối hợp hoạt động với các cơ quan bảo vệ pháp luật khác (trừ Tòa án) trong công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm; tham gia vào hoạt động xây dựng luật pháp…
2. Về hệ thống, cơ cấu tổ chức và cán bộ
2.1 Về hệ thống Viện kiểm sát Liên bang Nga
Hệ thống Viện kiểm sát Liên bang Nga được tổ chức theo đơn vị hành chính, bao gồm: Viện kiểm sát Trung ương Liên bang Nga, Viện kiểm sát các chủ thể thuộc Liên bang Nga và cấp tương đương, Viện kiểm sát các thành phố, quận, huyện và các Viện kiểm sát ngang cấp với chúng, các Viện kiểm sát chuyên trách (như: Viện kiểm sát trong lĩnh vực giao thông, Viện kiểm sát bảo vệ môi trường…), các Viện nghiên cứu khoa học, các trường đào tạo cán bộ kiểm sát, hệ thống Viện kiểm sát quân sự các cấp.
Viện kiểm sát các chủ thể thuộc Liên bang Nga và cấp tương đương bao gồm: Viện kiểm sát các nước cộng hoà, Viện kiểm sát các vùng, khu vực, thành phố trực thuộc liên bang (thành phố Mátxcơva và thành phố Saint-Peterburg), Viện kiểm sát các vùng tự trị, các khu vực tự trị, Viện kiểm sát quân sự (hạm đội) và các Viện kiểm sát chuyên trách. Số lượng các chủ thể thuộc Liên bang Nga do Hiến pháp Liên bang Nga quy định (tại Điều 65). Có bao nhiêu chủ thể thì có bấy nhiêu Viện kiểm sát các chủ thể. Hiện có tổng cộng 89 Viện kiểm sát các chủ thể thuộc Liên bang Nga.
Trong hệ thống Viện kiểm sát các chủ thể thuộc Liên bang Nga và cấp tương đương có các Viện kiểm sát thành phố, quận, huyện trực thuộc các chủ thể và các Viện kiểm sát ngang cấp với chúng. Theo số liệu thống kê năm 1996 thì tổng cộng có 2609 Viện kiểm sát thành phố, quận, huyện và các Viện kiểm sát ngang cấp với chúng.
2.2 Về cơ cấu tổ chức và cán bộ của Viện kiểm sát các cấp
a. Viện kiểm sát Trung ương Liên bang Nga:
Viện kiểm sát Trung ương Liên bang Nga do Tổng kiểm sát trưởng Liên bang Nga lãnh đạo (Tổng kiểm sát trưởng Liên bang Nga do Hội đồng Liên bang bổ nhiệm, bãi nhiệm theo đề nghị của Tổng thống Liên bang Nga). Giúp việc cho Tổng kiểm sát trưởng Liên bang Nga có một Phó Tổng kiểm sát trưởng thứ nhất và một số Phó Tổng kiểm sát trưởng (các chức danh này do Hội đồng Liên bang bổ nhiệm, bãi nhiệm theo đề nghị của Tổng kiểm sát trưởng Liên bang Nga).
Trong Viện kiểm sát Trung ương Liên bang Nga thành lập Ủy ban kiểm sát. Ủy ban kiểm sát Viện kiểm sát Trung ương Liên bang Nga là cơ quan tư vấn, với thành phần bao gồm: Tổng kiểm sát trưởng Liên bang Nga (Chủ tịch), Phó Tổng kiểm sát trưởng thứ nhất, các Phó Tổng kiểm sát trưởng khác và các Kiểm sát viên (các cán bộ kiểm sát khác) do Tổng kiểm sát trưởng Liên bang Nga bổ nhiệm.
Về cơ cấu tổ chức, Viện kiểm sát Trung ương Liên bang Nga gồm có: các Tổng cục, các Cục, các Vụ, Viện và các phòng, ban (tương đương với Tổng cục, Cục, Vụ, Viện hoặc nằm trong các tổ chức này). Các Tổng cục trưởng, Cục trưởng, Vụ trưởng, Viện trưởng là các Trợ lý trưởng của Tổng kiểm sát trưởng Liên bang Nga; các Phó Tổng cục trưởng, Phó Cục trưởng, Phó Vụ trưởng, Phó Viện trưởng là các trợ lý của Tổng kiểm sát trưởng Liên bang Nga.
Tổng kiểm sát trưởng Liên bang Nga còn có các cố vấn và các trợ lý về các nhiệm vụ đặc biệt. Các cố vấn và các trợ lý về các nhiệm vụ đặc biệt cũng có cấp phó của mình.
Trong các Tổng cục, Cục, Vụ, Viện có các chức danh pháp lý: Kiểm sát viên trưởng, Kiểm sát viên, Kiểm sát viên hình pháp trưởng (chịu trách nhiệm phụ trách công tác điều tra của các Dự thẩm viên về các lĩnh vực chiến lược điều tra, kỹ thuật điều tra…), Kiểm sát viên hình pháp, Dự thẩm viên trưởng (phụ trách điều tra các vụ án đặc biệt nghiêm trọng), Dự thẩm viên (đảm nhiệm các vụ án đặc biệt nghiêm trọng) và trợ lý của họ.
Các Tổng cục trưởng, Cục trưởng, Vụ trưởng, Viện trưởng và cấp phó của họ, các cố vấn và trợ lý của Tổng kiểm sát trưởng Liên bang Nga về các nhiệm vụ đặc biệt và cấp phó của họ, các Kiểm sát viên trưởng, Kiểm sát viên, Kiểm sát viên hình pháp trưởng, Kiểm sát viên hình pháp, các Dự thẩm viên trưởng, Dự thẩm viên và trợ lý của họ đều do Tổng kiểm sát trưởng Liên bang Nga bổ nhiệm và bãi miễn chức vụ.
Trong bộ máy Viện kiểm sát Trung ương Liên bang Nga, Viện kiểm sát quân sự Trung ương được coi là một bộ phận cấu thành trong Viện kiểm sát Trung ương Liên bang Nga, do một Phó Tổng kiểm sát trưởng Liên bang Nga lãnh đạo - Phó Tổng kiểm sát trưởng này đồng thời được gọi là Tổng kiểm sát trưởng Viện kiểm sát quân sự Trung ương.
Trong Viện kiểm sát Trung ương Liên bang Nga còn có Hội đồng tư vấn - khoa học. Hội đồng này xem xét các vấn đề cần giải quyết liên quan đến tổ chức và hoạt động của các cơ quan, tổ chức trong bộ máy của hệ thống Viện kiểm sát Liên bang Nga. Quy chế về Hội đồng tư vấn - khoa học do chính Tổng kiểm sát trưởng Liên bang Nga phê chuẩn.
b. Viện kiểm sát các chủ thể thuộc Liên bang Nga và cấp tương đương:
Viện kiểm sát các chủ thể thuộc Liên bang Nga và cấp tương đương (Viện kiểm sát quân sự và các Viện kiểm sát chuyên trách) do Kiểm sát viên (ở ta gọi là Viện trưởng Viện kiểm sát) các nước cộng hoà, các vùng, khu vực, thành phố trực thuộc liên bang (thành phố Mátxcơva và thành phố Saint-Peterburg), các vùng tự trị, các khu vực tự trị và cấp tương đương lãnh đạo. Các Kiểm sát viên này đều do Tổng kiểm sát trưởng Liên bang Nga trực tiếp bổ nhiệm và bãi nhiệm (trước kia, theo quy định tại khoản 1 Điều 13 Luật VKS Nga 1996, Tổng kiểm sát trưởng Liên bang Nga chỉ có thể bổ nhiệm Kiểm sát viên các nước cộng hoà, các vùng, khu vực, thành phố trực thuộc liên bang (thành phố Mátxcơva và thành phố Saint-Peterburg), các vùng tự trị, các khu vực tự trị và cấp tương đương sau khi đã thống nhất với các cơ quan quyền lực của các chủ thể thuộc Liên bang Nga, nay quy định này đã được Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật VKS Nga 1996 bãi bỏ). Giúp việc cho Kiểm sát viên các nước cộng hoà, các vùng, khu vực, thành phố trực thuộc liên bang (thành phố Mátxcơva và thành phố Saint-Peterburg), các vùng tự trị, các khu vực tự trị và cấp tương đương (sau đây gọi tắt là Kiểm sát viên các chủ thể thuộc Liên bang Nga) có một cấp phó thứ nhất và một số cấp phó khác (ở ta gọi là Phó Viện trưởng Viện kiểm sát). Các chức danh này đều do Tổng kiểm sát trưởng Liên bang Nga bổ nhiệm.
Ngoài ra, Kiểm sát viên các chủ thể thuộc Liên bang Nga cũng có thể có các trợ lý về các nhiệm vụ đặc biệt. Các trợ lý này do Kiểm sát viên các chủ thể thuộc Liên bang Nga bổ nhiệm và bãi nhiệm.
Tương tự như cơ cấu Viện kiểm sát Trung ương Liên bang Nga, trong cơ cấu của Viện kiểm sát các chủ thể thuộc Liên bang Nga và cấp tương đương có Ủy ban kiểm sát (thành phần của Ủy ban kiểm sát gồm có Kiểm sát viên các chủ thể thuộc Liên bang Nga (Chủ tịch), các cấp phó của họ và các Kiểm sát viên (các cán bộ kiểm sát khác) do họ bổ nhiệm), các Cục, Vụ, Viện và các phòng, ban (tương đương với Cục, Vụ, Viện hoặc nằm trong các tổ chức này). Các Cục trưởng, Vụ trưởng, Viện trưởng là các Trợ lý trưởng của Kiểm sát viên các chủ thể thuộc Liên bang Nga; các Phó Cục trưởng, Phó Vụ trưởng, Phó Viện trưởng là các Trợ lý của Kiểm sát viên các chủ thể thuộc Liên bang Nga. Trong các Cục, Vụ, Viện có các chức danh pháp lý: Kiểm sát viên trưởng, Kiểm sát viên, Kiểm sát viên hình pháp trưởng, Kiểm sát viên hình pháp, Dự thẩm viên trưởng phụ trách điều tra các vụ án đặc biệt nghiêm trọng, Dự thẩm viên và trợ lý của họ. Các chức danh này đều do Kiểm sát viên các chủ thể thuộc Liên bang Nga bổ nhiệm và bãi nhiệm.
c. Viện kiểm sát thành phố, quận, huyện và cấp tương đương:
Viện kiểm sát thành phố, quận, huyện và cấp tương đương do Kiểm sát viên (ở ta gọi là Viện trưởng Viện kiểm sát) thành phố, quận, huyện và cấp tương đương lãnh đạo. Các Kiểm sát viên này đều do Tổng kiểm sát trưởng Liên bang Nga bổ nhiệm và bãi nhiệm. Giúp việc cho Kiểm sát viên thành phố, quận, huyện và cấp tương đương có một cấp phó thứ nhất và các cấp phó khác (ở ta gọi là Phó Viện trưởng Viện kiểm sát). Các cấp phó này do Kiểm sát viên các nước cộng hoà, các vùng, khu vực, thành phố trực thuộc liên bang (thành phố Mátxcơva và thành phố Saint-Peterburg), các vùng tự trị, các khu vực tự trị và cấp tương đương bổ nhiệm và bãi nhiệm.
Viện kiểm sát thành phố, quận, huyện và cấp tương đương có các Trợ lý trưởng và các Trợ lý của Kiểm sát viên thành phố, quận, huyện và cấp tương đương, các Kiểm sát viên hình pháp trưởng, các Kiểm sát viên hình pháp, các Dự thẩm viên trưởng, các Dự thẩm viên (ở các Viện kiểm sát thành phố còn có các Dự thẩm viên phụ trách điều tra các vụ án đặc biệt nghiêm trọng) và các trợ lý của họ. Các chức danh này đều do Kiểm sát viên các nước cộng hoà, các vùng, khu vực, thành phố trực thuộc liên bang (thành phố Mátxcơva và thành phố Saint-Peterburg), các vùng tự trị, các khu vực tự trị và cấp tương đương bổ nhiệm và bãi nhiệm.
Ngoài ra, theo quyết định của Tổng kiểm sát trưởng Liên bang Nga, trong cơ cấu của Viện kiểm sát thành phố, quận, huyện và cấp tương đương có thể có các phòng, ban.
3. Tiêu chuẩn bổ nhiệm Kiểm sát viên
Các Kiểm sát viên và Dự thẩm viên phải là công dân Liên bang Nga, có trình độ đại học pháp lý, có những phẩm chất nghề nghiệp và đạo đức cần thiết, có đủ sức khỏe để hoàn thành các nhiệm vụ được giao. Khi bổ nhiệm, luật còn quy định một thời gian thử thách, thời gian này có thể kéo dài tới 6 tháng.
Đối với chức vụ trợ lý Kiểm sát viên và trợ lý Dự thẩm viên thành phố, quận, huyện và cấp tương đương, trong những trường hợp đặc biệt có thể bổ nhiệm cả những người đang còn học tại các khoa luật của các trường đại học.
Chức danh Kiểm sát viên (Viện trưởng Viện kiểm sát) thành phố, quận, huyện và cấp tương đương chỉ được phong cho người không dưới 25 tuổi và đã từng là Kiểm sát viên hoặc Dự thẩm viên ở các cơ quan kiểm sát không ít hơn 3 năm.
Nguồn: www.vksndtc.gov.vn