Hoà giải và tự thoả thuận trong tố tụng dân sự, kinh tế và lao động
1:29' 2/9/2009
Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự “các đương sự thỏa thuận được với nhau” Tòa án lập biên bản hòa giải thành đồng thời ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay.

Đối vi các trưng  hp Tòa án tiến hành hòa giải các đương  s trước  khi mphiên tòa, nếu đương  sự tha thuận được  vi nhau về việc gii quyết vụ án, Tòa án ra quyết đnh công nhận sự thỏa thuận của các đương  sự thì không xy ra vưng mc gì. Các vướng mắc chyếu phát sinh trong thủ tục ttng dân sự và đi vi nhng trường  hp các đương  sự thỏa thuận đưc  vi nhau tại phiên tòa sơ thẩm hoặc tại phiên tòa phúc thm. Khi đó Tòa án cần áp dụng hình thc văn bn nào?


T
rong tố tụng dân s, như  trên đã nêu, sau khi thụ lý vụ án, Tòa án tiến hành ly li khai của

nguyên đơn, bđơn, ngưi có quyn li, nghĩa vụ liên quan và thu thập các tài liệu có liên quan, đng thi tiến hành hòa giải, nếu các đương  sự thỏa thuận được  vi nhau tTòa án lập biên bản hòa giải tnh và ra quyết đnh công nhận sự thỏa thuận đó. Tuy nhiên, Pháp lệnh thủ tục gii quyết các vụ án kinh tế không quy đnh 15 ny (hoặc 10 ngày) cho Viện Kim sát hoặc các đương  sự có thể phản đối hoặc thay đổi quyết đnh công nhận sự thỏa thuận ca các đương  s. Trong các Pháp lệnh khác có nói về việc Tòa án khuyến khích các đương  sự thỏa thun đưc vi nhau và khi các đương  sự thỏa thuận được  vi nhau thì Tòa án công nhn sự thỏa thun đó. Tuy vy, các pháp lệnh y không quy đnh rõ thủ tc, hình thc và hiu lc của loi văn bản công nhận sthỏa thuận y. Thậm chí trong Pháp lnh thủ tục gii quyết các vụ án dân s, tại Điều 52 có quy đnh là: Trong trưng  hp các đương  sự tha thuận đưc  vi nhau về việc gii quyết vụ án tHội đng xét xử ra quyết đnh công nhận sự thỏa thuận đó, nhưng không nói rõ hiu lc của quyết đnh đó như thế nào.


T
rong trường  hp các đương  sự thỏa thuận vi nhau về việc gii quyết ván tại phiên tòa sơ thẩm thì quan điểm có khác nhau. Tmột số ngưi  cho rằng cần phải ra quyết đnh công nhn s thỏa thuận ca đương  s thủ tục ng như  quy trình ra quyết đnh đó ging như  trong trường hp Tòa án chủ đng tiến hành hòa giải trước khi xét x. Một skhác thì lại cho rằng Tòa án cũng ra quyết đnh nhưng không cần tuân theo quy trình như khi Tòa án chủ đng tiến hành hòa gii mà nếu đương  sự thỏa thuận được  vi nhau thì tòa ra quyết đnh luôn và quyết đnh đó phát sinh hiu lc như một quyết đnh phúc thẩm. Hoặc, tốt nhất Tòa án ra bản án và trong bản án đó, Tòa án công nhn sự thỏa thun của đương  s, bản án y có hiệu lc như một bản án phúc thm. Quan điểm cho rằng cần ra bn án công nhận sự thỏa thun đưc  sự đng tình của nhiều ngưi  nhất và phần ln họ là các thẩm phán. Song li có ý kiến cho rng việc các đương sự hòa gii vi nhau về vic gii quyết tranh chấp tại Tòa án về bản chất là một giao dch dân sự thông thường và bản thân sự thỏa thuận đó đã có hiệu lc ngay từ thi điểm các bên thỏa thun và có hiu lc bt buộc thc hiện đối vi các bên theo quy đnh ti Điều 7 Bộ luật Dân sự, việc Tòa án ra quyết đnh công nhận sự thỏa thuận ca các đương  sự va có tính công chng va có tính cưng chế thi hành án, nếu sau đó các đương  sự không tự nguyn thi hành.


Đối vi các trường hp tòa án tiến hành hòa giải trưc khi mở phiên tòa phúc thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm các đương  sự thỏa thun được  vi nhau về việc giải quyết vụ án thì tòa án phải lập Hội đng và ra quyết đnh để công nhận sự thỏa thuận đó. Bở vì:


Một là, ván đã được  Tòa án cấp sơ thẩm xét xử và ra bản án, quyết đnh. Do đó, theo Điều 69 Pháp lệnh thủ tục gii quyết các vụ án dân sự thì Tòa phúc thẩm có thể ginguyên bản án sơ thm, sửa đi bn án sơ  thẩm hoặc hy bản án sơ  thẩm ch pháp luật không quy đnh thẩm phán cấp phúc thẩm có quyn ra quyết đnh khác không liên quan đến bn án sơ thm.

Hai là, tha thuận của các đương  sự tại giai đoạn phúc thẩm không bảo đảm đy đủ tính chất nhng giao dch dân sự thông thưng.  Vì tha thun đó hình thành trong bi cảnh đã qua việc xét xsơ thm ở tòa án cp sơ thm. Hiện đang đt trong tình trạng đương  sự có thể thc hiện quyn kháng cáo hay Viện Kiểm sát thc hiện việc kháng ngh. Vì vy, thẩm phán cấp phúc thẩm không thể ra quyết đnh va có tính png chng va có tính cưỡng bc thi hành ở giai đon sơ thm.


Cho đến thi điểm này các Pháp lnh thủ tục giải quyết các vụ án vẫn còn hiệu lc pháp luật, tuy vy, khi chúng ta ban hành Bộ luật tố tụng dân sự thì các băn bản này sẽ mất hiệu lc. Vì vy, chúng tôi quan niệm rằng đt vn đề  giải thích Điều 52 và Điều 65 Pháp lnh thtục gii quyết các vụ án dân sự khác với việc đề xuất một gii pháp cho việc xây dng mi chế đnh này trong Bộ lut tố tụng dân s. Do đó, việc gii thích các quy đnh của Pháp lnh thủ tc gii quyết các vụ án dân sự về hòa giải để áp dụng thống nhất cho tất cả các Tòa án trong toàn quốc như quan điểm trên là hoàn toàn cần thiết. Vì vy trong Bộ luật tố tng dân s, theo chúng tôi, nên quy đnh rõ ràng vhiệu lc của quyết đnh công nhn s tha thuận của các đương  s. Giải pháp tốt nhất là nên quy đnh thẩm phán có tháp dng thtục hòa giải trong tất cả các giai đoạn ttụng và sau khi đã ra quyết đnh công nhận sự thỏa thuận này ri thì quyết đnh có hiệu lc pháp luật ngay.

Cụ thể có thphân biệt như sau:


a. Hòa giải trước  khi Tòa án mở phiên tòa sơ thẩm: Trong giai đoạn này, Tòa án chủ đng tiến hành các bước hòa giải, mục đích là hòa giải được  các đương  sđể các đương  sự đi đến thng nhất vi nhau về việc gii quyết tranh chp. Thủ tục này áp dụng ging nhau đối vi các tranh chấp dân s, kinh tế, lao đng và hôn nhân gia đình (trừ các loại việc theo quy đnh ca pháp luật không đưc  phép hòa gii). Thủ tục hòa gii tại các Hội đng hòa gii trưc  khi khi kiện ra trước  tòa án đi vi các tranh chấp lao động không nằm trong khái niệm hòa gii nêu ở  đây. Trong trường hp hòa gii thành, Thẩm phán phụ trách hòa gii ra quyết đnh công nhận sthỏa thun của các đương  sự và quyết đnh này có hiệu lc ngay. Biên bản hòa gii thành là một văn bản bắt buộc cần phi có ghi li diễn biến của qúa trình hòa giải. Bản thân biên bản hòa gii được  thư ký lập theo diễn biến của qúa trình hòa gii cho nên ngay sau khi hòa gii xong thì biên bản đó phi đưc  đc lại cho mọi ngưi nghe (hoặc đưa cho mọi ngưi đc) để cùng ký vào vi Thm phán và thư ký. Trên cơ sở biên bản hòa gii thành, Thẩm phán ra quyết đnh công nhn sự thỏa thun của các đương  s.


b. Hòa gii tại phiên tòa sơ thm: Bộ luật Ttụng dân s, kinh tế và lao đng nên quy đnh hòa gii ti phiên tòa sơ thẩm cũng là một thủ tục bt buộc (trừ các việc không đưc  phép hòa gii theo quy đnh của pháp luật). Tuy nhiên, vì việc hòa gii được  tiến hành ti tòa án bi một Hội đng xét xử do đó trong trường hp hòa giải tnh tHội đng xét xử ra quyết đnh công nhn sự thỏa thun đó. Quyết đnh y có hiệu lc pháp luật ngay. Không ra bản án trong trưng hp Hội đồng xét x hòa giải thành. Thc chất của hòa gii thành tại phiên tòa và hòa gii thành trước  khi mở phiên tòa cũng là công nhận sự tha thuận ca các đương  sự. Do đó, không thể chấp nhận được  nếu như quyết đnh hòa giải thành trước  khi mở phiên tòa (đưc  tiến hành bmột Thm phán-điều y hiện đang được  tiến hành theo thủ tục tố tng kinh tế) lại có hiệu lc pháp luật ngay, còn quyết đnh của Hi đng xét xlại có thbchống án hoặc kháng nghị theo trình tự  phúc thm. Không nên đt  vn đề  ra quyết đnh đình chỉ việc gii quyết vụ án trong trường  hp các đương  s hòa gii tnh vi nhau tại phiên tòa sơ  thm. Quyết đnh đình chỉ việc giải quyết vụ án về thc chất không giải quyết dt điểm quyn và lợi ích hp pháp của các đương  s.


c. Hòa gii tnh trước khi mở phiên tòa phúc thm: Vấn đề là một Thm phán xét xử phúc thm có thể ra một quyết đnh trái vi một bản án hoặc quyết đnh sơ thẩm được  không? Trong trường hp có kháng cáo, kháng ngh phúc thm, bản án sơ thẩm ca phát sinh hiu lc pháp luật, theo chúng tôi, trong giai đoạn này nên phân biệt hai trường hp: Trưng hp có kháng cáo của các đương  sự và trưng  hp có kháng nghcủa Vin Kiểm sát. Nếu một trong các bên đương sự hoặc cả hai bên đương  skháng cáo thì hvẫn có thhòa giải vi nhau khi cấp phúc thẩm ca mở phiên tòa. Trong trường hp các đương  sự thỏa thuận đưc  vi nhau, Thm phán phụ trách ra quyết đnh công nhận sự thỏa thun của các đương  sự ging như trong trường hp các đương  sự thỏa thun được  với nhau trước  khi mở phiên tòa sơ thm. Sự thỏa thuận này có thể trái vi quyết đnh ca tòa sơ thẩm nhưng không đưc  trái pháp luật. Như  vy, để  ng nhận một sự thỏa thuận của các đương  sự sau khi đã có kháng cáo, chcần một Thm phán là đủ mà không cần phải tnh lập Hội đng xét x. Cần lưu ý là trước khi đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm thì Thẩm phán đưc  phân công nghiên cứu hsơ và có toàn quyn ra quyết đnh như tạm đình ch, đình chỉ việc gii quyết vụ án hoặc quyết đnh công nhận sự thỏa thun của các đương  s. Vì vy, thiết nghĩ, nếu khi đã có quyết đnh đưa vụ án ra xét xmà các đương  sự mi thỏa thun được  vi nhau thì việc quyết đnh công nhn hay không công nhận sự thỏa thun của các đương ssẽ do Hi đồng xét xquyết đnh.


Hòa giải là một chế đnh được  áp dng ở pháp luật của nhiều nước. Đi vi nưc ta, vấn đề hòa gii không chchú trọng đến việc tôn trọng quyn tự đnh đoạt của các đương  sự mà còn nhm duy trì mối đoàn kết trong nhân dân. Vì vy, tránh can thiệp qúa sâu vào qúa trình tự thỏa thuận của đương  sự. Tòa án (Thẩm phán) chnên can thip trong nhng trường  hp thỏa thuận ca đương  sự là trái pháp luật để các đương  sự có thể thỏa thuận li cho đúng pháp lut.


Mặt khác, việc quy đnh Tòa án có quyn công nhận hoặc không công nhận sự thỏa thuận ca

các đương  sự là vn đề được  xem xét khơn khi xây dng dthảo Bộ luật tố tụng dân s. Có như vy thì pháp luật và người bảo vệ pháp lut mi kiểm soát được  qúa trình tự thỏa thuận của họ. Không th đng  ý vi  một quyết đnh sai của các đương  s.  Tuy nhiên, khi thỏa thun, đương  sự có thể có nhng thỏa thuận trái với nhng quy đnh ca pháp luật. Trong trưng  hp đó Tòa án chcông nhng thỏa thuận đúng pháp lut, còn đi vi nhng tha thuận trái pháp luật coi như không thỏa thuận đưc  vẫn tiến hành đưa ra xét xử bình thưng.


Để có thể xây dựng được  một chế đnh về hòa giải trong tố tng dân s, kinh tế, lao đng, chúng tôi xin đxuất:


1. Cn phân biệt trong Bộ luật tố tụng dân s, kinh tế và lao đng hai khái nim tương  đi độc lập nhau, đy là Tòa án (Thẩm phán) hòa giải các đương  sự vi tư cách là một hoạt động tố tng
đc lp và mang tính bắt buộc và các đương  sự tự thỏa thuận được  vi nhau;


2. Tôn trong nguyên tắc tự đnh đoạt không trái pp luật của đương  sự, kng can thiệp qúa sâu vào các thỏa thun đúng pháp luật của đương  s;


3. Việc hòa gii do một Thẩm phán tiến hành và nếu hòa gii thành hoặc đương  sự thỏa thun được  vi nhau thì Thẩm phán ra quyết đnh công nhận sự tha thuận đó kcả trong trưng hp hòa gii trước  khi mở phiên tòa phúc thẩm (trừ trưng  hp thỏa thuận ca các bên đương  sự trái vi kháng nghcủa Vin Kiểm sát thì phải thành lập Hi đồng xét xử phúc thẩm để xem xét, quyết đnh không cần mphiên tòa);


4. Tất cả các quyết đnh công nhận sự tha thuận của đương  sự phát sinh hiệu lực ngay sau khi ban hành

 

TS. Phan Hữu Thư

Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật - Số 02/1999

Các tin tiếp
Các tin trước
TIÊU ĐIỂM
Xem nhiều nhất