Một số vấn đề về tài phá hành chính của chính quyền Sài Gòn và đề xuất mô hình tài phán hành chính ở Việt Nam
18:30' 8/7/2009

Để  góp phần vào công cuộc đổi mới một cách toàn diện mà Đảng và Nhà nước đã và đang thực hiện, việc cải cách nền hành chính quốc gia đòi hỏi phải được tiến hành một cách đồng bộ giữa hành chính quản lý và hành chính tài phán. Xây dựng hệ thống tài phán hành chính ở Việt Nam hiện nay là một đòi hỏi tất yếu mang tính chất khách quan, chính vì vậy khi nghiên cứu để thiết lập toà án hành chính ở Việt Nam, chúng ta phải tìm hiểu một cách toàn diện, với nhiều bình diện khác nhau của nhiều mô hình tài phán hành chính của nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có cả hoạt động tài phán hành chính của chính quyền Sài Gòn.



Để sớm thiết lập tại Việt Nam một hệ thống tài phán hành chính vừa mang đầy đủ những nét cơ bản nhất vừa thể hiện được những đặc thù riêng của Việt Nam.

Trước tiên cần đi vào tìm hiểu hoạt động tài phán của chính quyền Sài Gòn chúng ta cần biết qua vài nét về lịch sử hoạt động tài phán hành chính tại Việt Nam từ năm 1975 trở về trước, sơ bộ được chia làm 3 giai đoạn như sau:

- Giai đoạn 1: Thời kỳ pháp thuộc;

- Giai đoạn 2: Thời kỳ 1950-1954;

- Giai đoạn 3: Thời kỳ 1954 đến tháng 4/1975.

A. HOẠT ĐỘNG TÀI PHÁN QUA CÁC THỜI KỲ

I. THỜI KỲ PHÁP THUỘC

Trước khi thực dân pháp đến Việt Nam, hoạt động tài phán hành chính được đề cập một cách đầy đủ với đúng nghĩa của nó.

Nhà nước phong kiến Việt Nam thời kỳ này cũng đã có các hoạt động tài phán như các phán quyết về hình luật, dân luật trong đó có những phán quyết mang tính tài phán hành chính đã được quy định trong các bộ luật của nhà nước phong kiến Việt Nam qua các triều đại. Tuy nhiên, ở vào thời kỳ này, nguyên tắc “Nhà nước pháp quyền” chưa được đặt ra nên không có một cơ quan tài phán nào có quyền kiểm soát và phán quyết tính hợp pháp của các hành vi hành chính, cũng như việc xác nhận trách nhiệm của nhà vua hay của quốc gia đối với dân chúng (thần dân)…

Khi thực dân Pháp thực hiện chế độ cai trị Việt Nam thì đồng thời thiết lập nền tài phán trong đó có tài phán hành chính. Lúc này việc phán quyết các tranh chấp hành chính tại Việt Nam do hai cơ quan phụ trách, đó là Tham chính viện Pháp (Conseil d’Etat) và Hội đồng tài phán hành chính Đông Dương (Conseil du contentieux administratif de l’Indochine). Các cơ quan này do Pháp thiết lập theo Sắc lệnh ngày 6/5/1921 và được sửa đổi bởi các Sắc lệnh năm 1928, 1932 và 1948.

Về thẩm quyền xét xử của hai loại cơ quan này chủ yếu là xét xử các hành vi do người Pháp trong các cơ quan nhà nước thực hiện. Trong khi đó, các quyết định hành chính của các nhà chức trách người Việt Nam thực hiện thì không bị xem xét.

Như vậy, dưới thời Pháp thuộc, tại Việt Nam đã bắt đầu hình thành hệ thống tài phán hành chính, song về phạm vi thì chỉ áp dụng đối với công chức người Pháp làm việc trong các công sở tại Việt Nam.

II. THỜI KỲ 1950-1954

Giai đoạn này, hoạt động tài phán hành chính được thực hiện bởi ba hệ thống tài phán, thẩm quyền xét xử của ba hệ thống này được xác định căn cứ vào quốc tịch của các đương sự. Chính vì vậy, giai đoạn này còn được gọi là giai đoạn hỗn hợp (hoặc giai đoạn chuyển tiếp) để bước sang giai đoạn sau.

Hệ thống thứ nhất, đó là hệ thống hỗn hợp Pháp viện, hệ thống tài phán này được cao ủy pháp tại Đông dương và Quốc trưởng Việt Nam có Nghị định thư nagỳ 17/6/1950 thàng lập cơ qan tài phán hành chính bao gồm Tòa án hành chính hỗn hợp (đặt tại Đà lạt) và một Ủy ban thượng thẩm hỗn hợp đặt cạnh Tham chính viện pháp.

hệ thống thứ hai, đó là hệ thống tài phán Việt Nam. Hệ thống này gồm có Tòa án hành chính và Ban hành chính Tối cao Pháp viện. Hai cơ quan này được thiết lập theo Dụ số 5 nàgy 18/10/1949 và Dụ số 2 ngày 5/1/1950.

Hệ thống thứ ba đó là hệ thống pháp đình hành chính Pháp. Đây là hệ thống tài phán hành chính có thẩm quyền xét xử các hành vi hành chính có liên quan đến công sở Pháp tại Việt Nam, chẳng hạn như những tranh tụng liên quan đến việc xây dựng ngạch bậc công chức của người Pháp. Đồng thời, Tham chính viện Pháp còn có thẩm quyền xét xử các khiếu nại về lạm quyền của các công chức hành chính đối với công dân.

Như vậy, trong giai đoạn từ năm 1950-1954, các tranh chấp về hành chính tại Việt Nam có thể được đưa ra ba hệ thống tài phán hành chính thuộc ba loại khác nhau căn cứ vào tính chất của vụ kiện cũng như vào thẩm quyền xét xử theo luật định. Giai đoạn này được chấm dứt bởi Hiệp ước tư pháp này 16/9/1954 bãi bỏ chế độ pháp đình hỗn hợp.

III. GIAI ĐOẠN 1954 ĐẾN THÁNG 4/1975

Sang giai đoạn này, về mặt tài phán nói chung, đã được Hiệp ước tư pháp giữa chính quyền Sài gòn và Nhà nước Pháp ký kết. Với Hiệp ước trên, chính quyền Sài gòn có thẩm quyền tài phán trên lãnh thổ Nam Việt Nam. Trong giai đoạn này, các cơ quan tài phán hành chính bao gồm:

- Tòa án hành chính được thiết lập do Dụ số 2 ngày 5/1/1950 và được sửa đổi bởi Dụ số 36 nagỳ 8/11/1954.

- Tham chính viện được thành lập do Dụ số 38 nagỳ 9/11/1954.

- Tối cao pháp viện được Hiến pháp năm 1967 quy định tại các Điều 80 và 83 bao gồm về tổ chức, điều hành, về thẩm quyền.

Như vậy, về lịch sử mà nói, hoạt động tài phán hành chính Nam Việt Nam dưới thời chính quyền Sài Gòn đã được thiết lập, tùy thuộc vào điều kiện lịch sử của từng thời kỳ, hệ thống tài phán này được củng cố và hoàn thiện để thực hiện đúng thẩm quyền của mình về xét xử các tranh chấp hành chính.

B. HỆ THỐNG TÀI PHÁN HÀNH CHÍNH

Sau khi chính quyền Sài Gòn thâu tóm được toàn quyền tài phán trên lãnh thổ Nam Việt Nam thì quyền tài phán hành chính cũng được thiết lập, vì hệ thống xét xử của quyền tài phán này gồm có Toà án hành chính; Tham chính viện và Toà tối cao Pháp viện. Đây là một hệ thống được thiết lập theo cấp xét xử, ngoài hệ thống này ra, trên thực tế; quyền tài phán hành chính còn được thực hiện do các Toà án chuyên biệt được thiết lập do các đạo luật riêng, chẳng hạn như các Toà hành chính, Toà cấp dưỡng… chuyên để xét xử các tranh chấp hành chính trong lĩnh vực đó.

Dưới đây, chúng ta sẽ lần lượt xem xét về mặt tổ chức, thẩm quyền xét xử của mỗi cấp tài phán:

I. TOÀ ÁN HÀNH CHÍNH

Đây là một cơ quan có quyền tài phán hành chính được thiết lập và tổ chức do Dụ số 2 ngày 5/1/1950 và được sửa đổi bởi Dự số 36 ngày 8/11/1954. Trụ sở được đặt tại Sài Gòn.

- Về thành phần: Toà án hành chính được cơ cấu gồm có các thành phần sau:

+ 1 Chánh án;

+ 1 Chánh án dự khuyết;

+ 1 Uỷ viên Chính phủ;

+ Một số hội thẩm (tuỳ theo nhu cầu công vụ);

+ 1 Tổng thư ký (là một viên chức hành chính hay tư pháp, do Tối cao Pháp viện bổ nhiệm).

Các nhân viên của Toà án hành chính đều thuộc ngạch Thẩm phán hành chính (Quy chế này được ấn định do Dụ số 40 ngày 15/11/1954).

- Thẩm quyền xét xử: Được quy định tại Điều 2 Dụ số 36 ngày 8/11/1954, Toà án hành chính có các thẩm quyền:

+ Thẩm quyền sơ thẩm

+ Thẩm quyền sơ và chung thẩm.

a. Thẩm quyền sơ thẩm: Toà án hành chính có thẩm quyền sơ thẩm các vụ việc sau:

+ Các vụ kiện đòi bồi thường liên quan đến các pháp nhân hành chính;

+ Các vụ kiện xin huỷ các quyết định hành chính có tính cách cá nhân liên quan đến hành vi hành chính của các viên chức nhà nước.

Chẳng hạn như các tranh chấp liên quan đến việc quyển dụng, kỷ luật, lương bổng, phụ cấp…. của công chức.

Tóm lại, đó là các tranh chấp có liên quan đến quyền lợi của các công chức nhà nước (các công chức này do Tổng trưởng bổ nhiệm).

+ Các vụ tranh tụng có liên quan đến các cuộc tuyển cử hàng tỉnh và hàng xã.

Chẳng hạn, trong Sắc lệnh số 12/66 ngày 30/3/1966 có quy định: “trong vòng 15 ngày, sau khi tuyên bố kết quả cuộc bầu cử, cử tri và ứng viên có quyền khiếu nại về tính cách hợp lệ của cuộc bầu cử…. Uỷ ban phải thông báo ngay đơn khiếu nại theo lối hành chính cho ứng viên bị khiếu nại biết… Đơn khiếu nại phải lập thành 3 bản và họp tại Văn phòng Uỷ ban… Toà án hành chính xét xử các vụ khiếu nại về tính cách hợp lệ của các cuộc bầu cử rong thời hạn một tháng, kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ…”.

b. Thẩm quyền sơ và chung thẩm:

Toà án hành chính được quyền xét xử sơ và chung thẩm tất cả các tranh chấp hành chính có liên quan đến lĩnh vực thuế.

II. THAM CHÍNH VIỆN

1. Về tổ chức

Tham chính viện cũng là cơ quan có quyền tài phán về hành chính. Cơ quan này được thiết lập và tổ chức do Dụ số 38 ngày 9/11/1954 để thay thế ban hành chính Tối cao Pháp viện. Trụ sở đặt tại Sài Gòn.

- Về cơ cấu tổ chức, Tham chính Viện bao gồm:

+ 1 Ban tài phán;

+ 1 Ban hành chính;

+ 1 Đại hội đồng tham chính viện;

+ 1 Phòng Tổng thư ký;

Các nhân viên gồm có:

+ 1 Chủ tịch;

+ 1 hoặc 2 Phó Chủ tịch;

+ Một số cố vấn và các tham nghị để làm nhiệm vụ tư vấn cho Viện;

+ 1 Tổng thư ký và các thư ký giúp việc.

Chủ tịch của Tham chính Viện có quyền được làm Chủ tọa ban tài phán và Ban hành chính chỉ đạo hoạt động chung của Tham chính viện và điều hành công việc của các ban, đồng thời còn có quyền thay mặt Tham chính viện để tham gia quan hệ với chính quyền và các cơ quan nhà nước khác cũng như với công dân.

- về cơ cấu tổ chức của các Ban được sắp xếp như sau:

a. Thành phần Ban tài phán

+ 1 Chánh thẩm;

+ 1 Hội thẩm;

+ 1 Ủy viên Chính phủ.

(Chánh thẩm sẽ được chọn trogn hàng Chủ tịch, Phó chủ tịch hay Cố vấn Tham chính viện, còn Hội thẩm và Ủy viên Chính phủ sẽ được chọn trong hàng Cố vấn Tham chính viện).

b. Thành phần Ban hành chính

+ 1 Chủ tịch;

+ 2 Cố vấn;

+ Một số tham  nghị (theo nhu cầu công vụ).

Trong mỗi vụ xét xử, Chủ tịch Ban hành chính cử một cố vấn đề thuyết trình.

c. Đại hội đồng tham chính viện

Đại hội đồng tham chính viện bao gồm toàn thể thẩm phán làm việc tại Tham chính viện, do Chủ tịch Tham chính viện làm chủ tọa.

2. Về thẩm quyền

Xét về mặt thẩm quyền của Tham chính viện, chúng ta sẽ lần lượt xét thẩm quyền của các Ban tài phán, Ban hành chính và của Đại hội đồng tham chính viện.

a. Thẩm quyền của Ban tài phán

Ban tài phán trong Tham chính viện có hai loại thẩm quyền xét xử được quy định trong Dụ số 38 ngày 9/11/1954 và một loại thẩm quyền do một vài đạo luật riêng quy định cho ban tài phán xét xử.

Thẩm quyền được quy định trong Dụ số 38 như sau: Theo Điều 9, Tham chính viện có thẩm quyền cụ thể:

-                      Quyền phúc thẩm các bản án sơ thẩm do Tìa án hành chính đã xét xử.

-                      Quyền sơ thẩm và chung thẩm những vụ việc xin tiêu hủy các quyết định hành chính do những nguyên nhân như lạm quyền, không có thẩm quyền, hoặc vi luật hay các quyết định đó không có lý do cũng như lý do đó không xác thực.

-                      Quyền sơ thẩm và chung thẩm mọi vụ tranh tụng liên quan đến hành vi hành chính của các công chức nhà nước (các công chức này do sắc lệnh hay nghị định của Tổng thống hoặc Thủ tướng bổ nhiệm).

-                      Thẩm quyền được bắt nguồn từ các đạo luật riêng. Trong các đạo luật riêng này, ban tài phán của Tham chính viện được quyền xét xử một vài tranh tụng hành chính đặc biệt như sau:

+ Theo Điều 31, 48 và 53 Dụ số 57 ngày 22/10/1956 quy định thể lệ hành nghề y sĩ, nha sĩ và hộ sinh. Ban tài phán Tham chính viện có thẩm quyền sơ và chung thẩm những vụ tranh tụng có liên quan đến các cuộc bầu cử vào các hội đồng toàn quốc y sỹ đoàn, nha sỹ đoàn, hộ sinh đoàn và dược sỹ đoàn.

+ Theo Điều 25 Dụ số 57 ngày 22/10/1956 và Điều số 83 Luật số 1/58 ngày 10/1/1958, ban tài phán Tham chính viện có thẩm quyền xét xử các đơn kháng cáo của các y sỹ, nha sỹ, dược sỹ, các sản bà đối với các quyết định của Hội đồng đoàn đẫ từ chối không ghi tên đương sự vào danh sách đoàn.

+ Điều 73 đoạn 3 Dụ số 22 ngày 15/11/1952 ấn định chế độ chung cho các thân nhân và những người kế quyền của các binh sỹ tàn phế…

b. Thẩm quyền của Ban hành chính

Ban  hành chính có hai loại thẩm quyền sau:

+ Thẩm quyền cố vấn

+ Thẩm quyền dư pháp.

Về thẩm quyền cố vấn, ban hành có quyền tham gia ý kiến về các vấn đề sau:

-                      Về việc nhượng quyền khai thác một nhiên liệu, nguyên liệu của quốc gia hay một vấn đề về độc quyền thương mại.

-                      Về khế ước hành chính giữa một cơ quan hành chính với tư nhân giá trị  trị giá từ 500. 000 đô la  trở lên.

-                      Cho phép các pháp nhân hành chính được nhận những quà tặng hay bằng tiền hay bằng hiện vật.

-                      Được quyền thiết lập hay bác bỏ các hoạt động hành chính của Trung ương hay địa phương

Như  vậy, về thẩm quyền cố vấn thì các văn bản pháp lý có liên quan đến những vấn đề nêu trên nhất thiết phải có sự tham gia của Ban chấp hành tham chính viện, nếu không thì các văn bản đó không có hiệu lực.

Ngoài những nội dung trên, cơ quan lập pháp hoặc nhân viên Chính phủ có thể yêu cầu Ban hành chính phát biểu ý kiến về bất cứ môt vấn đề gì.

Về thẩm quyền dự pháp, ban hành chính các thẩm quyền sau:

-                      Được phát biểu ý kiến về những dự thảo Luật, Sắc lệnh, Nghị định, do cơ quan Lập pháp hay Chính phủ chuyển sang Tham chính viện để lây ý kiến.

-                      Dự thảo các dự án Luật, Sắc lệnh, Nghị định nếu cơ quan Lập pháp hay Chính phủ yêu cầu

-                      Những vấn đề Chính phủ phải lấy ý kiến tham chính viện khi xây dựng những dự thảo Luật, Sắc lệnh. Nghị định là: các vấn đề liên quan đến mọi quyền tự do công dân; quy định những vấn đề  liên quan đến việc cải tổ nền hành chính quốc gia hay địa phương, liên quan đến tổ chức toà án hành chính và tham chính viện..

c. Thảm quyền của Đại hội đồng tham chính viện:

Đại hội đông tham chính viện có quyền phát biểu ý kiến về việc áp dụng các biện pháp trừng phạt đối với Thẩm phán hành chính phạm kỷ luật.

            Ngoài ra Chủ tịch tham chính viện có quyền uỷ nhiệm cho Hội đồng những quyền sau:

-                      Điều tra, xác định những vụ ttranh tụng hành chính quan trọng

-                      Phát biểu ý kiến về những dự thảo Luật, Sắc lệnh, Nghị định dquan trọng, Trong trường hợp cần thiết, Đại hội đồng tham chính viến có quyền đề nghị lên cơ quan Lập pháp hay Chính phủ sửa đổi những điểm tối nghĩa hoặc mâu thuẫn, khuyết điểm trong các văn bản quan trọng

            Đại hội đồng Tham chính viện có có quyền phát biểu ý kiến về những vấn đề  Lập hiến, các văn bản pháp luật khác mà Chính phủ tham gia ký kết.

 

            Và theo luật só 7/60 ngày 13/12/1960 thì Tham chính viện còn có thẩm quyền tự ý thỉnh cầu Viện bảo hiến xem xét tính hợp hiến của đạo luật, Sắc lệnh hay các quy tắc hành chính.

III. TỐI CAO PHÁP VIỆN

 Theo điều 76 Hiến pháp năm 1967, quyền Tư pháp độc lập được uỷ nhiệm cho Tối cao pháp viện về mặt tổ chứcvà điều hành, cũng như thảm quỳên của  của Tối cao pháp viện đã được quy định trong Hiến pháp từ điều 80 đến điều 83  và được quy định cụ thể trong Luật số 007/68, ngày 03/9/1968 và Luật số 010/71 ngày 29/6/1971.

1.                  Về thành phần

            Thành phần của Tối cao Pháp viện cũng như cách tuyển chọn và bổ nhiệm định tại điều 4 luật số 007/68

“ Tối cao Pháp viện gồm 15 Thảm phán do Quốc hội tuyển chọn và Tổng thống bổ nhiệm căn cứ  vào danh sách 30 người Thảm phán đoàn, Công tố đoàn Luật sư đoàn bầu’’.

            Tuy nhiên, trong giai đoạn thành lập Tối cao Pháp viện  chí có 9 Thảm phán và nhiệm kỳ của Thảm phán là 6 năm. Như vậy, Tổng thống chỉ được quyền bổ nhiệm những người được Nghị viện tuyển chọn. Việc tuyển chọn Thảm phán Tối cao Pháp viện được tiến hành theo các giai đoạn sau:

-                      Giai đoạn 1: Bầu cử tri đoàn Thẩm phán Tối cao Pháp viện

            Cử tri đoàn này gồm có 50 Thảm phán xử án, 50 Thẩm phán công tố và 50 Luật sư. Các thành phần trên do các thành viên của đoàn bầu ra quyết định theo đa số.

-                      Giai đoạn 2: Bầu 30 ứng cử Thẩm phán tối cao Pháp viện

            Mỗi cử tri trong Cử tri bầu đoàn Thảm phán tối cao Pháp viện có quyền được tuyền chọn 30 ứng cử viên, trong đó là 10 ứng cử viên trong Thẩm phán đoàn, 10 ứng cử viên thuộc công tố đoàn và 10 ứng cử viên thuộc đoàn Luật sư. Như vậy, có 3 vòng bỏ phiếu độc lập với nhau và người nào nhiều phiếu nhất sẽ trúng cử. Trong trường hợp chưa đủ  30 người thì số còn lại sẽ được chọn trong số những ứng cử viên còn lại có số phiếu cao nhất không phân biệtnghành nghề, nếu số phiếu ngang bằng nhau thì căn cứ vào thâm niên, ngành nghề và sau đó là độ tuổi.

             Nếu phương cách trên không đạt thì Hội đồng tổ chức bầu cử phải tuyên bố cuộc bầu cử không thành và sẽ được tiến hành bầu cử lại trong thời gian ngăn nhất.

-                      Giai đoạn 3: Quốc hội tuyển chọn Thẩm phán tối cao Pháp viện.

            Trong thời hạn 24 giờ sau khi công bố kết quả chính thức, Hội đồng bầu cử phải danh sách cùng 30 ứng cử viên trúng cử đến Văn phòng Thượng Nghị viện và Văn phòng Hạ nghị viện. Nhận được danh sách trên Nghị viện sẽ thông báo cho các nghị sĩ, dân biểu và niêm yết danh sách tại trụ sở của Viện 3 ngày, sau đó, Quốc hội sẽ họp kín để tuyển chọn 9 hoặc 10 Thẩm phán tối cao Pháp viện. Trong một cuộc bỏ phiếu kín 9 hoặc 15 ứng viên cao phiếu sẽ đắc cử vào Tối cao Pháp viện để làm Thẩm phán.

            Trong trường hợp có khuyết một hay nhiều thẩm phán tối cao Pháp viện thì Chủ tịch tối cao Pháp viện phải có thông báo cho Tổng thống, Chủ tịch Thượng nghị viện, Chủ tịch Hạn nghị viện trong thơi gian 3 ngày, Nghị viện sẽ có 30 ngày để chọn, bổ sung Thẩm phán; vị Thẩm phán mới này được đảm nhiệm đúng nhiệm kỳ của vị Thẩm phán được thay thế.

2.                  Thẩm quyền của tối cao Pháp viện

Tối cao pháp viện có 2 loại thẩm quyền sau:

+ Thẩm quyền có tính tài phán

+ Thẩm quyền không có tính tài phán

a.                  Thẩm quyền có tính tài phán

-                      Có quyền phán quyết về tính hợp hiến hay không hợp hiến của các Đạo luật. Sắc lệnh, Nghị định, tính hợp hiến, hợp pháp của các Sắc lệnh, Nghị định, Quyết định hành chính.

-                      Quyền phán quyết một chính đảng có hành vi hoặc chủ trương chống lại quốc gia.

-                      Có thẩm quyền  về tài phán cao nhẩt trong cả nước

b.                  Thẩm quyền không có tính tài phán:

-                      Được quyền giải thích Hiến pháp

-                      Quản lý ngành Tư pháp.

-                      Kiểm kê tài sản của Chủ tịch Giám sát viện và các Giám sát viên

-                      Lập danh sách ứng cử viên Tổng thống và các Phó Tổng thống kiểm sát tính hợp thức của các cuộc bầu cử và công bố kết quả bầu cử

-                      Chứng kiến cùng với Nghị viện lễ tuyên thệ nhận chức của Tổng thống

-                      Có quyền chỉ định 1/3 tổng số các giám sát viên như Hiến pháp quy định

Đó là toàn bộ những nét cơ bản về hoạt động tài phán của Chính quyền Sài Gòn đã tồn tại ở Nam Việt Nam từ 1975 trở về trước. Tuy nhiên do điều kiện có hạn nên chúng ta m ới chỉ dứng lại ở việc tìm hiểu về mặt tổ chứcvà thẩm quyền xét xử của hệ thống tài phán này. Còn hoạt động tố tụng hành chính cũng như thủ tục tố tụng và một số vấn đề có liên quan, hy vọng chúng ta sẽ  lần lựot tìm hiều ở dịp khác.

Nguồn: www.giri.ac.vn

Các tin tiếp
Các tin trước
TIÊU ĐIỂM
Xem nhiều nhất