Vai trò của tài phán hành chính trong công cuộc cải cách nền hành chính quốc gia và những yêu cầu đặt ra cho việc tổ chức cơ quan tài phán hành chính
18:30' 8/7/2009
Bài viết này là những ý kiến đóng góp vào việc thiết kế cơ quan tài phán hành chính xuất phát từ yêu cầu của một nền hành chính quốc gia hiện đại, phải đạt được qua công cuộc cải cách hiện đang tiến hành ở nước ta.

Những ý kiến được hình thành theo trình tự suy lý như sau:

- Những mục tiêu căn bản của cải cách nền hành chính quốc gia có liên quan đến việc phải có hoạt động tài phán hành chính ở nước ta. Ở đây không đề cập toàn diện mục tiêu của cải cách nền hành chính quốc gia, cũng không lập luận về cơ sở khoa học hay thực tiễn của bất kỳ mục tiêu nào. Bài viết coi như các mục tiêu đã được vạch ra là đúng, chọn trong số các mục tiêu đó những mục tiêu nào có liên quan đặc biệt đến hoạt động tài phán hành chính và làm rõ mối liên quan đó.

- Từ đó đưa ra những yêu cầu đặc biệt mà khi thiết kế cơ quan tài phán hành chính phải tính tới các giải pháp nào đó để cơ quan tài phán hành chính đáp ứng được các yêu cầu này. Có thể hiểu điều đó như là những chỉ tiêu chất lượng đặc biệt cần được lưu ý khi chế tạo để sử dụng, vật dụng được chế tạo có khả năng tồn tại và hoạt động trong môi trường đã được lưu ý như trên.

- Từ đó đi đến những đề nghị cụ thể nào đó về một số chi tiết của bộ máy tài phán hành chính và hoạt động tài phán hành chính, có liên quan đến vấn đề việc bảo đảm các chỉ tiêu chất lượng nói trên.

Cách đặt vấn đề của bài viết không phủ định mọi cách đặt vấn đề nào khác khi tính toán các chi tiết của tài phán hành chính. Nói cách khác, chúng ta có thể và cần phải xuất phát từ nhiều căn cứ để tính toán cho sự ra đời của cơ quan tài phán hành chính chứ không phải chỉ xuất phát từ công cuộc cải cách nền hành chính quốc gia. Nhưng nếu đây là một góc nhìn bao quát, bao gồm hết hay gần hết các góc nhìn khác, thì đó cũng là điều có ích mà bài viết này muốn chứng minh.

Với góc độ xem xét các vấn đề tài phán hành chính như thế, chúng tôi có một số ý kiến như sau:

I. VẤN ĐỀ THỨ NHẤT: Vì sao cần lấy cải cách nền hành chính quốc gia làm căn cứ, tiêu đề cho việc bàn luận về tài phán hành chính?

- Trước hết, vì không thể đánh giá bất kỳ sự vật, sự việc nào nếu không đặt sự vật, sự việc trước một yêu cầu, mục đích nào đó. Ngay cả khi đã có ý thức về sự cần thiết phải có chuẩn mực đánh giá, mà các chuẩn mực không được quy tụ theo một hệ thống “cây chuẩn mực” thì cũng không thể có cơ sở tìm được lời giải tối ưu. Người lựa chọn luôn ở vào tư thế lưỡng lự, “bỏ thì thương, vương thì tội” trước những ngã ba đường. Rất có thể sự chưa ngã ngũ của nhiều cuộc tranh luận về một số chi tiết của tài phán hành chính là do chưa thống nhất các chuẩn mực đánh giá, mỗi người muốn giải quyết vấn đề theo một kiểu, tuỳ thuộc vào cái mà họ cho là lý do phải ra đời tài phán hành chính. Thậm chí, ngay cả khi lý do chung thống nhất, mà lý do cụ thể khác nhau, thì từng tiểu tiết vẫn có những giải pháp khác nhau. Các bàn luận không sâu, nhất trí kiểu “ào ào” khi đi vào cụ thể lại mâu thuẫn nhau giữa những con người đã từng nhất trí, chính là vì vậy.

- Thứ đến, và đây là lý do chính yếu, khiến cho khi bàn về tài phán hành chính phải gắn vấn đề với cải cách nền hành chính quốc gia, là vì bản thân vấn đề tài phán hành chính là một bộ phận của cơ chế điều chỉnh pháp luật hành chính. Các bộ phận trong cùng một cơ chế tất phải cùng có đã đành, còn phải có như thế nào thì mới “ăn giơ, ăn khớp” với nhau để tạo nên sự chuyển động, đã nhất trí từ lâu. Thực tế vẫn còn sự chênh nhau về mức độ nhận thức trong sự giống nhau về hướng nhận thức, nên đã không có sự coi trọng như nhau khi đặt những quy định cụ thể về một nền tài phán hành chính tương lai.

II. VẤN ĐỀ THỨ HAI: Những mục tiêu nào của cải cách nền hành chính quốc gia có liên quan hữu cơ đến việc tổ chức tài phán hành chính?

Mục tiêu của cải cách nền hành chính quốc gia được hiểu như là những chỉ tiêu chất lượng mà nền hành chính quốc gia sau cải cách phải đạt được, có thể có nhiều. Nhưng liên quan hữu cơ đến vấn đề tài phán hành chính phải kể đến các mục tiêu sau đây:

1- Một là, tăng cường tính pháp chế của nền hành chính quốc gia.

Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa là một nguyên tắc chung, chỉ đạo cả quá trình đổi mới Nhà nước theo hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam. Nền hành chính quốc gia là một bộ phận của toàn bộ Nhà nước. Việc cải cách nền hành chính quốc gia cũng phải tuân thủ nguyên tắc chung đó.

Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa là tăng cường tính pháp quyền của Nhà nước, mà kết quả đạt được phải là một tình trạng tốt đẹp của việc tuân thủ pháp luật trong mọi quan hệ xã hội, bị điều chỉnh bởi pháp luật, trong đó chủ thể quan hệ pháp luật là cả hai phía: công dân (tổ chức công dân) và các cơ quan trong bộ máy nhà nước. Trong bộ máy hành chính quốc gia, các chủ thể nhà nước chính là các cơ quan hành chính và công chức hành chính.

Tăng cường tính pháp chế trong nền hành chính quốc gia không chỉ là sự tuân thủ nguyên tắc chỉ đạo chung đối với công cuộc cải cách nhà nước mà nền hành chính quốc gia là một bộ phận, là một trọng tâm, trọng điểm mà nguyên tắc trên phải được lưu ý vận dụng, quán triệt. Sở dĩ như vậy là vì hoạt động hành chính quốc gia là một bộ phận thường xuyên, rộng lớn, thực thể sinh động, có ảnh toàn diện, thiết thực, được tiến hành trong những điều kiện vô cùng phức tạp của đời sống công dân của toàn bộ hoạt động của Nhà nước. Nếu tuân thủ pháp luật là một yêu cầu đối với Nhà nước nói chung, thì sẽ là một yêu cầu đặc biệt riêng đối với nền hành chính quốc gia. Tình trạng tuân thủ pháp luật của hoạt động hành chính quốc gia mà thấp thì tai hại của nó sẽ rất lớn.

Về phía Nhà nước, các chủ thể quan hệ pháp luật hành chính có hai chiều quan hệ: với nhân và với nhau (với cấp trên và cấp dưới trong hệ thống). Trong cả hai chiều đó sự điều chỉnh pháp luật hành chính bao giờ cũng nhằm vào hai trọng tâm:

- Một là tư cách pháp lý của cơ quan hành chính và công chức, thể hiện rõ sự quy định quyền hạn của mỗi pháp nhân đó. Vi phạm ở đây tức là thực hiện những hoạt động không được pháp luật giao cho.

- Hai là chuẩn mực pháp lý mà một hành vi hành chính cụ thể dựa vào.

Tuân thủ pháp luật đối với các cơ quan hành chính và công chức có nghĩa là, trong hoạt động hành chính quốc gia, mỗi chủ thể về phía Nhà nước không được trái ngược với các quy định quyền và trách nhiệm quan hệ với các chủ thể là những bộ phận thuộc nội bộ hệ thống bộ máy hành chính quốc gia (với các cấp trên, dưới… của bộ máy) và với công dân hoặc tổ chức công dân.

Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong nền hành chính quốc gia chính là làm cho các quy phạm pháp luật hành chính điều chỉnh các quan hệ nói trên, được tuân thủ nghiêm ngặt.

2- Yêu cầu thứ hai mà nền hành chính quốc gia cải cách phải đạt được, đồng thời là yêu cầu được sự bảo đảm của tài phán hành chính. Yêu cầu này nếu bảo đảm được nó phải thể hiện được thành các kết quả  mà nền hành chính quốc gia đem lại cho quốc dân như sau:

- Công dân và tổ chức công dân phải làm với mức ít nhất các thủ tục hành chính mỗi khi tham gia các quan hệ xã hội mà Nhà nước điều chỉnh. Có nghĩa là, do đặc thù nào đó mà nhiều quan hệ xã hội bị đặt vào sự điều chỉnh pháp luật của Nhà nước, do đó các chủ thể quan hệ đó phải thực hiện những hành vi phối hợp để tiếp nhận sự quản lý của Nhà nước, thì ở đây có yêu cầu là Nhà nước cần phải làm cách nào để dân không phải tốn nhiều công sức, tiền của để nhận được một quyết định của Nhà nước.

- Công dân được nhận đầy đủ các giá trị vật chất và tinh thần, được Nhà nước đưa lại cho họ bằng sự đóng góp của chính họ. Có nghĩa là hành chính quản lý, hành chính điều chỉnh, phần hành chính công (tức là hành chính tạo ra các dịch vụ công phục vụ công dân), phải được thực hiện tốt nhất với sự đóng góp ít nhất của công dân. Cải cách nền hành chính quốc gia là phải làm cho nền hành chính quốc gia mở rộng hoạt động của nó theo hướng này, đồng thời mở rộng phải với mục đích là làm lợi cho dân. Cái lợi cụ thể có thể hết sức đa dạng, phong phú. Song, dù đa dạng, phong phú như thế nào, cốt lõi chung của tất cả các biểu hiện cụ thể ấy cũng chỉ là: rẻ tiền, thuận tiện, chất lượng cao và được tôn trọng về mặt con người. Rẻ tiền mà phiền toái, tốt mà phải quỵ luỵ mới nhận được hoặc thuận lợi, được tôn trọng nhưng hiệu quả thấp… đều là một thứ hành chính công khiếm khuyết, không cần cho dân.

Như đã nêu, mục tiêu của cải cách nền hành chính quốc gia rất phong phú, chứ không chỉ có hai nội dung trên đây. Nhưng đó chính là hai yêu cầu, hai mục tiêu mà tính hiện thực của nó có được hay không là tuỳ ở sự tổ chức tài phán hành chính ra sao. Tại sao lại như vậy? Dưới đây là các lý do của nó.

III. VẤN ĐỀ THỨ BA: Vai trò của tài phán hành chính đối với nền hành chính quốc gia như thế nào?

1- Trước hết, trở lại vấn đề thứ hai để là rõ, vì sao lại coi hai yêu cầu: tăng cường pháp chế và tăng cường tính nhân văn, nhân bản, nhân đạo của hành chính quốc gia là những yêu cầu, những mục tiêu mà tính thực hiện của chúng phụ thuộc rất lớn vào tài phán hành chính? Có những lý do sau:

- Một là, về mặt lôgíc hình thức, vấn đề tài phán hành chính là một công đoạn bắt buộc của quy trình ba công đoạn của sự điều chỉnh pháp luật: lập pháp, hành pháp và tư pháp. Tăng cường pháp chế trong xây dựng nền hành chính quốc gia chính là tăng cường điều chỉnh các quan hệ quản lý bằng pháp luật quản lý (tức pháp luật hành chính), bao gồm cả ba công đoạn: lập pháp (xây dựng pháp luật hành chính), hành pháp (tổ chức thực hiện) và tư pháp (tư pháp hành chính). Không thể nói đến tăng cường pháp chế trong tổ chức và hoạt động hành chính quốc gia mà không có đầy đủ các quy phạm pháp luật hành chính và hoạt động kiểm sát và xét xử các vi phạm.

- Hai là, đây là lý do thực chất hơn, là các yêu cầu đã nêu thực chất, là các yêu cầu có tính “đối lập” cao đối với chính nền hành chính quốc gia, là loại yêu cầu có tính chất thách thức mọi nền hành chính quốc gia, nếu không muốn nói là chống lại nền hành chính quốc gia.

Thật vậy, vấn đề là ở chỗ tăng cường pháp chế và nâng cao tính nhân văn, nhân bản, nhân đạo của hành chính quốc gia có nghĩa là “ngăn cản lạm quyền” và “đòi hỏi lợi quyền” dưới hình thức yêu cầu được phục vụ. Hai đòi hỏi đó đối với bất kỳ ai chủ thể quyền lực nào cũng đã là một “vật khó đòi” bởi vì, dù là “hạn quyền” hay “đòi lợi”, suy cho cùng cũng là vấn đề lợi ích. Mà lợi ích là mối quan tâm hàng đầu của mỗi con người, trong đó chủ thể quyền lực cũng là con người, hai đòi hỏi trên đặt ra cho nền hành chính quốc gia còn khó khăn hơn bởi chủ thể quyền lực ở đây có nhiều nét đặc biệt, lại hoạt động trong điều kiện rất đặc biệt. Nền hành chính quốc gia được tạo nên bằng hoạt động của hàng trăm ngàn con người cụ thể so với một quốc dân gần 100 triệu người, bình quân khoảng 5-7% dân số, được tổ chức thành các cơ quan hành chính và các chức danh công chức. Các cơ quan và con người đó hoạt động và sử dụng quyền lực nhà nước theo luật định với tư cách tập thể có, cá nhân có, trong điều kiện thuận lợi có, khó khăn có. Do đó, đặt cả guồng máy vào khuôn khổ pháp luật, chỉ được làm những gì mà pháp luật quy định, là điều không dễ. Phải đem lại cho công dân các dịch vụ văn minh, lễ độ, có hiệu quả… lại càng khó khăn hơn. Bởi như vậy thì chủ thể hành chính, tức các cơ quan hành chính và các công chức sẽ bị hạn chế thẩm quyền, sẽ bị gia tăng trách nhiệm và bớt cơ hội vụ lợi cá nhân, ít ra cũng là cơ hội lẩn trốn nghĩa vụ hay trách nhiệm, là những cái mà nếu là con ngưòi ai cũng cảm nhận như nhau về “sự được, sự mất” trong đó. Nói cách khác, nếu công cuộc cải cách hành chính quốc gia phải tạo nên một nền hành chính quốc gia đổi mới với nhiều yêu cầu, trong đó tăng cường pháp chế và nâng cao tính nhân văn, nhân bản, nhân đạo chỉ là số nhỏ trong tổng thể yêu cầu đó, thì chính hai yêu cầu đó là hai yêu cầu hàng đầu, nếu không nói là duy nhất, cần được bảo đảm bằng tài phán hành chính, hoặc bằng một hệ thống biện pháp trong đó có tài phán hành chính.

2- Từ các phân tích trên, có thể nói rằng, lý do cần có sự ra đời của tài phán hành chính có nhiều, trong đó lý do rất cơ bản là vì phải xây dựng một Nhà nước pháp quyền, một nền hành chính quốc gia có tính pháp chế và tính nhân văn, nhân đạo và dân chủ cao. Đó cũng là vai trò của tài phán hành chính. Cụ thể hơn là:

- Nền  hành chính quốc gia cải cách phải có trong lòng nó yếu tố tài phán hành chính. Thiếu yếu tố đó, dù tạo được một nền hành chính quốc gia mới như thế nào, công cuộc cải cách nền hành chính quốc gia vẫn chưa được coi là đầy đủ.

- Bản thân tài phán hành chính là một lực lượng tham gia vào quá trình cải cách hành chính quốc gia. Không thể đạt được các cải cách căn bản nếu không có sự tác động của tài phán hành chính. Chẳng hạn, một nền hành chính quốc gia cải cách phải không quan liêu, không tham nhũng, không tuỳ tiện, không gây phiền hà, sách nhiễu dân…, phải là kết quả của cuộc chống quan liêu, tham nhũng, của cuộc xây dựng mới hệ thống quy trình và thủ tục hành chính. Làm ba việc trên bằng nhiều lực lượng, nhưng lực lượng vô cùng có hiệu lực phải là tài phán hành chính. Nó bảo vệ quy trình và thủ tục tất sẽ loại trừ quan liêu, khi bảo vệ quá trình và thủ tục và chống quan liêu tất nó sẽ chống tham nhũng từ gốc, để không phát sinh hình sự.

IV. VẤN ĐỀ THỨ TƯ: Cần phải cho ra đời một tài phán hành chính như thế nào mới có thể đáp ứng được các đòi hỏi của nền hành chính quốc gia cải cách trên cơ sở đã thấy rõ vai trò của tài phán hành chính đối với cải cách nền hành chính quốc gia.

Khi thiết kế cơ quan tài phán hành chính phải trù liệu thoả đáng các giải pháp cho mọi vấn đề mà cách giải quyết chúng phụ thuộc rất đáng kể vào những yêu cầu cụ thể của nền hành chính quốc gia cải cách.

1- Trước hết, cần thấy rõ một số yêu cầu đặc thù sau đây của nền hành chính quốc gia đối với hoạt động tài phán

a) Một là yêu cầu cao về tính chính xác, công minh

Trong điều chỉnh pháp luật dân sự, hình sự, kinh tế, lao động…., tức là các quan hệ tư pháp, sự nghiêm minh, công tâm, chính xác của hoạt động tài phán cũng rất cần. Không ai cho rằng ở đó không cần đến “cán cân công lý”. Chính vì thế, lịch sử công lý của nhân loại đã sinh ra và lưu truyền những “cái đẹp” của các “bao công”. Tuy vậy, hoạt động tài phán trong quan hệ công pháp, sự chính xác, công minh còn cần hơn thế. Sở dĩ như vậy là vì:

- Tài phán công pháp là hành vi “tự xử, tự phê, tự nhận lỗi” của Nhà nước. Nếu làm đúng không chỉ là lỗi được sửa mà lòng tin của dân vào Nhà nước sẽ tăng lên nhiều. Ngược lại, sai lầm không dừng lại ở bản thân cái sai cụ thể, mà nhân dân sẽ suy diễn ra nhiều điều về toàn bộ bộ máy nhà nước.

- Tài phán công pháp nếu không minh xét sẽ đối lập với toàn dân. Điều đó khác với tài phán tư pháp, dù công minh hay bất minh vẫn có và chỉ có một bên nhân dân đồng tình: những người đứng về bên nguyên cáo hoặc bên bị cáo. Đây là một thực tế tâm lý, đúng hay sai của nhân dân là điều còn phải bàn, nhưng là một thực tế không thể phủ nhận. Nhưng trong tài phán công pháp, bên bị xử là cơ quan hành chính và công chức, khi có sự vụ đưa ra xem xét, tâm lý chung của công chúng là hướng cả về bên nguyên. Hiện tượng đó là đúng hay sai của dân di nữa cũng vẫn là điều có thực. Khi đó, các phán xử “trắng án” dù đủ lý cũng không chắc đã được lòng dân. Nên thiếu lý, chắc chắn sự phản ứng của dân sẽ không nhỏ.

b) Hai là yêu cầu cao về tính vững vàng pháp lý của chủ thể tài phán hành chính, nếu không muốn nói là cao hơn so với tài phán tư pháp.

Về mặt suy lý, chúng ta dễ cho rằng coi vi phạm của cơ quan và công chức hành chính là những “vấp váp trong công vụ”, rằng vì thế phải có tài phán hành chính đề “sai đâu sửa đấy” một cách kịp thời. Vì vậy, có lập tài phán hành chính đi nữa thì Toà án này cũng không thể đánh đồng với các Toà án khác, càng không thể có cái nhìn gần gũi với Toà hình sự.

Nhưng cần phải thấy đúng mức thực tế của cuộc đấu tranh này gay go ở chỗ nào chứ không thể dừng lại ở sự suy lý hình thức được. Cần thấy:

- Như trên đã phân tích, vấn đề quan liêu, tham nhũng là khuyết tật lớn nhất của nền hành chính quốc gia hiện nay. Tất cả các cải cách về nền hành chính quốc gia dù được tiến hành hay và đẹp như thế nào về mọi mặt đều không làm yên gì được lòng dân nếu tình trạng quan liêu, tham nhũng không giảm được. Mặt khác, chúng ta cũng lại biết rằng, chống quan liêu, tham nhũng không thể triệt để được nếu chỉ truy bắt kẻ quan liêu, tham nhũng, mà phải diệt tận gốc sinh ra tệ quan liêu, tham nhũng. Một trong các biện pháp trừ diệt quan liêu, tham nhũng từ nguồn gốc là xây dựng hệ thống pháp luật hành chính đầy đủ, chính xác và sử dụng một sức cưỡng chế đủ mạnh để bảo đảm cho pháp luật hành chính được tuân thủ triệt để. Như vậy, tài phán hành chính trong hoàn cảnh cụ thể ở nước ta  hiện nay có một sứ mạng rất thời sự, là được cài đặt trong cuộc đấu tranh lớn nhằm làm trong sạch bộ máy hành chính quốc gia, làm trong sạch đội ngũ công chức. Sự gay go trước hết và chung nhất là ở đó.

- Mặt khác, thực tế cho thấy các vi phạm pháp luật  hành chính hoặc phần lớn vi phạm pháp luật hành chính của các cơ quan hành chính nhà nước và công chức có quan hệ nhất định với các vi phạm pháp luật hành chính, hình sự, kinh tế… Do đó, các đương sự có vi phạm pháp luật hành chính sợ sự phán quyết về các vi phạm công pháp thì ít, mà sợ sự phát hiện xâu chuỗi đằng sau các sai phạm hành chính thì nhiều. Vì thế, đấu tranh chống vi phạm pháp luật hành chính không đơn thuần là việc bảo đảm cho nền hành chính quốc gia làm đúng chức năng, quyền hạn, nhiệm vụ…của nó mà ít nhiều, cũng tham gia chống vi phạm pháp luật khác, trong đó có cả chống tội phạm hình sự, một cuộc đấu tranh gay go, phức tạp.

- Ngoài ra còn phải thấy rằng, các “can phạm pháp luật hành chính” là các chủ thể hành vi đặc biệt, có năng lực đặc biệt trong hành vi. Nếu các sai phạm chỉ thuần tuý là sai phạm do nhận thức sai về thẩm quyền, về áp dụng pháp luật về kỹ thuật hay nghiệp vụ quản lý, sẽ không có vấn đề gì cần phải nói về năng lực đặc biệt trên. Nhưng nếu là các sai phạm có quan hệ đến các sai phạm khác, trầm trọng hơn cho lợi ích cá nhân của  họ, thì các năng lực đặc biệt ấy sẽ biến thành sự chống đối có hiệu lực, cũng rất đặc biệt, đối với các cơ quan bảo vệ pháp luật hành chính.

- Ba chi tiết trên cần phải được tính đến một cách đủ mức để chuần bị cho tài phán hành chính đứng được trên vị trí của nó, lảng tránh sự thật đó sẽ bị đẩy lùi khi tài phán hành chính đối mặt với công việc.

2- Xuất phát từ những nhìn nhận như trên nên có giải pháp như thế nào cho một số vấn đề đang còn do dự trong dự án.

a) Vấn đề vị trí của tài phán hành chính trong cơ cấu chung của bộ máy nhà nước ta: nên đặt nó nằm trong hệ thống nào?

Hiện đã có nhiều ý kiến, làm cơ sở cho nhiều phương án. Thiết nghĩ, các ý kiến đó không phải không đủ tầm sâu sắc, toàn diện. Tuy vậy, cũng xin góp thêm đôi điều suy nghĩ, hy vọng các góc nhìn của chúng ta sẽ toàn diện hơn.

- Trước hết, phải chăng tài phán hành chính và Toà án hành chính là hoạt động mang “chất” tư pháp, còn Toà án hành chính là cơ quan được lập ra để làm những việc thuộc tài phán hành chính.

- Như vậy, Toà án hành chính có thể thực hiện toàn bộ hoạt động tài phán hành chính hoặc có thể không làm toàn bộ. Toàn bộ hay không toàn bộ là quy định chủ quan của lập pháp.

- Tài phán hành chính lấy pháp luật hành chính làm chuẩn mực, mà pháp luật hành chính là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ quản lý giữa các cơ quan hành chính quốc gia với nhau và với công dân (hoặc tổ chức công dân). Các quy phạm pháp luật đó có nguồn (hay hình thức) là các đạo luật và các văn bản pháp quy về hành chính do Quốc hội ban hành cho hệ thống bộ máy hành chính quốc gia nói chung, hoặc do cơ quan hành chính nhà nước nói riêng ban hành. Tất cả các quy định đó phải được các chủ thể trong các quan hệ pháp luật hành chính tuân thủ, trong đó có các chủ thể là cơ quan hành chính và công chức. Phán xét và cưỡng chế các chủ thể quan hệ đó tiến hành các quan hệ trong khuôn khổ của các quy định quản lý chính là tài phán hành chính.

- Thông thường, người thực hiện sự phán xét theo một chuẩn mực nào đó phải có quan hệ lập trường đồng nhất với chủ thể của các chuẩn mực được dùng để phán xử và nhất thiết không thể đồng vị, cùng lập trường lợi ích với đối tượng bị phán xử. Nói cách khác, nếu có A là người ban hành chuẩn mực, B là người phải  hành động theo chuẩn mực để phán xét các hành vi của C thì A và B rứt khoát không thể là một đã đành, mà ngay cả A và C cũng phải có quan hệ pháp lý đặc biệt mà thực chất A và C phải là một, dù về hình thức tổ chức chúng là hai. Điều đó giống như quan hệ giữa Quốc hội với Toà án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân.

- Nhưng như đã phân tích, các chuẩn mực làm cơ sở cho tài phán hành chính, không do một chủ thể ban hành. Nó có cả văn bản luật, văn bản pháp quy, tức vừa do Quốc hội, vừa do cơ quan hành pháp ban hành. Riêng  các văn bản pháp quy lại không chỉ do Chính phủ ban hành.

- Do đó, vấn đề Toà án hành chính phải được đặt trong chương trình tổng thể, nhằm tổ chức thực hiện toàn bộ vấn đề tài phán hành chính, mà không thể biệt lập giải quyết, càng không thể nhập cuộc vào một giải pháp là lập Toà án hành chính. Toà án hành chính là một cơ quan để thực thi chức năng tài phán hành chính chứ không thể là loại cơ quan duy nhất thực hiện chức năng này.

b) Vấn đề trách nhiệm hành chính mà các cơ quan hành chính quốc gia và công chức phải chịu khi họ vi phạm pháp luật hành chính và bị Toà án hành chính “tuyên án” nên như thế nào?

- Trước hết, cần có quan điểm rõ ràng cho vấn đề sau đây: cần hay không cần thực hiện sự “trừng phạt” đối với các cơ quan hành chính nhà nước hoặc công chức vi phạm pháp luật hành chính và bị “kết tội” tại Toà án hành chính. Nên chăng như xu hướng hiện nay là, các cơ quan hành chính nhà nước nếu có sai thì sửa, gây thiệt hại cho công dân do các quyết định sai lầm ấy gây ra thì bồi thường, nếu tổn thất hiện vật hay giá trị thì nguồn bồi thường là công quỹ nhà nước. Cách xử lý ấy phải chăng là quá giản đơn, là không công bằng, là chưa tính tới mức độ trầm trọng của sự coi thường nhân dân của không ít cơ quan hành chính nhà nước và công chức nhà nước, sự cần thiết phải cưỡng chế để quá trình hành chính quốc gia sớm có thủ tục và quy trình chính thống, có rồi thì được tuân thủ nghiêm chỉnh.

- Theo chúng tôi, chủ thể có lỗi phải chịu phạt. Hình thức thế nào nên nghiên cứu thêm.

c) Vấn đề cụ thể thứ ba là, cần quy định như thế nào để tạo cho công dân điều kiện thuận lợi nhất trong việc sử dụng pháp luật hành chính để đấu tranh, đưa các vi phạm của cơ quan hành chính nhà nước và công chức ra Toà án hành chính.

Những quy định truyền thống thường là, buộc các “bên nguyên” trước khi khiếu kiện ra Toà án hành chính cần trực tiếp phản ánh nguyện vọng của mình với các cơ quan hoặc công chức, người có quyết định hành chính bị coi là không đúng. Nếu các thỉnh cầu ấy không được đáp ứng thoả đáng, người có thỉnh cầu mới khởi kiện. Đó là điều vô lý, tại sao công dân vi phạm hành chính là bị phạt, mà Nhà nước vi phạm lại bắt công dân hãy “nhắc nhở” Nhà nước, nếu Nhà nước không nghe, tự cho là đúng mới khởi kiện. Hoặc một quan niệm truyền thống khác muốn rằng công dân khiếu kiện phải tự lực chứng minh được tính đúng đắn về mặt pháp lý của mình, sự vi phạm của cơ quan nhà nước hoặc công chức cũng là một quan niệm không phù hợp với hoàn cảnh lúc này của nước ta.

Trên đây không phải là tất cả những gì cần nói, có liên quan đến các chi tiết của một thiết chế cần có cho Toà án hành chính và chúng tôi không có ý định giải quyết vấn đề Toà án hành chính ở khía cạnh đó. Như cách đặt vấn đề, bài này chỉ muốn bàn về các yêu cầu của cải cách nền hành chính quốc gia có liên quan đến Toà án hành chính, qua đó làm rõ vai trò của tài phán hành chính nói chung, Toà án hành chính nói riêng đối với sự nghiệp đó mà thôi./.

PGS.TS Lê Sĩ Thiệp -Chủ nhiệm Khoa quản lý nhà nước - Học Viện Hành chính Quốc gia
Nguồn:  www.giri.ac.vn
.vn

Các tin tiếp
Các tin trước
TIÊU ĐIỂM
Xem nhiều nhất