I. Hoạt động của các tổ chức đảng có chức năng kiểm tra hiện nay
1. Thanh tra, kiểm tra, giám sát cần thiết với mọi tổ chức và con người trong xã hội. Đặc biệt với Đảng ta là một đảng cầm quyền thì công tác kiểm tra gắn liền một cách tất yếu với sự lãnh đạo của Đảng. Đây là vấn đề có tính nguyên tắc, vừa là chức năng lãnh đạo, vừa là trách nhiệm, phương pháp, quy trình lãnh đạo của Đảng. Kể từ khi thành lập Đảng đến nay, qua thực tiễn hoạt động, Đảng ta đã kết luận: Công tác kiểm tra là một trong những chức năng lãnh đạo của Đảng, là một khâu quan trọng của tổ chức thực hiện, là phương pháp hiệu nghiệm để khắc phục bệnh quan liêu. Do đó, Đảng ta luôn luôn coi trọng và tiến hành thường xuyên công tác kiểm tra.
Chủ tịch Hồ Chí Minh nói:
“Chính sách đúng là nguồn gốc của thắng lợi”.
“Khi đã có chính sách đúng, thì sự thành công hay thất bại của chính sách đó là do nơi cách tổ chức công việc, nơi lựa chọn cán bộ và do nơi kiểm tra. Nếu ba điều ấy sơ sài, thì chính sách đúng mấy cũng vô ích”.
“Nếu tổ chức việc kiểm tra cho chu đáo thì cũng như có ngọn đèn “pha”. Bao nhiêu tình hình, bao nhiêu ưu điểm và khuyết điểm, bao nhiêu cán bộ chúng ta đều thấy rõ. Có thể nói rằng: chín phần mười khuyết điểm trong công việc của chúng ta là vì thiếu sự kiểm tra”.
2. Công tác kiểm tra của Đảng là công tác của toàn Đảng, của các tổ chức đảng, nhưng do từng giai đoạn cách mạng khác nhau và do chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các tổ chức đảng có khác nhau, nên vi phạm trách nhiệm kiểm tra của các tổ chức đảng cũng có điểm khác nhau.
Trong giai đoạn hiện nay thực hiện Điều lệ Đảng khoá VIII, các quy định của Bộ Chính trị, của Ban chấp hành Trung ương; hướng dẫn của Uỷ ban kiểm tra Trung ương về thực hiện nhiệm vụ công tác kiểm tra của Đảng thì phạm vi trách nhiệm kiểm tra của các tổ chức đảng được quy định cụ thể như sau:
- Các cấp uỷ đảng có nhiệm vụ lãnh đạo công tác kiểm tra và tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra đối với mọi tổ chức đảng và đảng viên thuộc phạm vi lãnh đạo của cấp uỷ.
- Các ban của cấp uỷ có nhiệm vụ kiểm tra các cấp uỷ cấp dưới và các ban của cấp uỷ cấp dưới về lĩnh vực công tác do từng ban phụ trách, kiểm tra những nội dung do cấp uỷ giao và phối hợp với Uỷ ban kiểm tra cùng cấp kiểm tra những nội dung có liên quan.
- Các Đảng đoàn, Ban cán sự đảng căn cứ vào quyết định của Bộ Chính trị hoặc quyết định của cấp uỷ về tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của từng Đảng đoàn, Ban cán sự đảng mà tiến hành công tác kiểm tra.
- Các tổ chức cơ sở đảng có nhiệm vụ kiểm tra việc chấp hành nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Điều lệ Đảng đối với mọi tổ chức đảng, đảng viên sinh hoạt và hoạt động thuộc phạm vi lãnh đạo của mình.
- Uỷ ban kiểm tra các cấp tiến hành công tác kiểm tra theo quy định của Điều 32 và Điều 33 Điều lệ Đảng và những nội dung do cấp uỷ giao.
Phạm vi trách nhiệm kiểm tra của các tổ chức đảng theo quy định trên bao gồm nhiều nội dung. Song, nhiệm vụ kiểm tra của các cấp uỷ, các ban của cấp uỷ, các Đảng đoàn, Ban cán sự đảng, các tổ chức cơ sở đảng chủ yếu và cơ bản kiểm tra việc chấp hành Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, pháp luật của Nhà nước, giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên. Uỷ ban kiểm tra các cấp chủ yếu tập trung kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới, cán bộ, đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm trong việc chấp hành Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, tiêu chuẩn đảng viên, tiêu chuẩn cấp uỷ viên..., trực tiếp giải quyết khiếu nại về kỷ luật đảng và giải quyết tố cáo đối với tổ chức đảng cấp dưới và đối với cán bộ, đảng viên.
3. Các tổ chức đảng, trong quá trình thực hiện phạm vi trách nhiệm kiểm tra, phải nắm vững và tuân thủ phương pháp cơ bản của công tác kiểm tra của Đảng.
Phương pháp cơ bản của công tác kiểm tra của Đảng là dựa vào tổ chức đảng, phát huy tinh thần tự giác của tổ chức đảng và đảng viên; phát huy trách nhiệm xây dựng Đảng của quần chúng; làm tốt công tác thẩm tra, xác minh; kết hợp công tác kiểm tra của Đảng với công tác thanh tra của Nhà nước, Thanh tra nhân dân, công tác kiểm tra của các đoàn thể chính trị - xã hội và phối hợp với các ban, ngành có liên quan.
Thực hiện phương pháp cơ bản của công tác kiểm tra của Đảng trên đây. Các tổ chức đảng khi tiến hành kiểm tra nói chung và giải quyết khiếu nại, tố cáo nói riêng, một mặt phải chủ động đưa vào tổ chức đảng tinh thần tự giác của tổ chức đảng và đảng viên, trách nhiệm xây dựng Đảng của quần chúng, làm tốt công tác thẩm tra, xác minh; mặt khác phải quan tâm phối hợp với Thanh tra nhà nước, các cơ quan bảo vệ pháp luật để tiến hành kiểm tra hoặc giải quyết các khiếu nại, tố cáo đối với tổ chức đảng, đảng viên, sự phối hợp giữa các cơ quan kiểm tra Đảng với các cơ quan Thanh tra nhà nước, các cơ quan bảo vệ pháp luật chủ yếu ở 2 hình thức phối hợp sau đây:
- Đối với các vụ kiểm tra hoặc giải quyết khiếu nại, tố cáo, xét thấy nội dung phức tạp, liên quan đến nhiều đối tượng là cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ, đảng viên thuộc diện cấp uỷ cùng cấp quản lý thì tổ chức đảng có trách nhiệm kiểm tra, giải quyết, thống nhất với Ban cán sự Đảng cơ quan Thanh tra nhà nước có trách nhiệm kiểm tra, giải quyết (nơi không có Ban cán sự Đảng thì thống nhất với lãnh đạo cơ quan Thanh tra nhà nước), báo cáo với cấp uỷ cùng cấp giao cho một cơ quan chủ trì có sự phối hợp của các cơ quan Thanh tra nhà nước có trách nhiệm kiểm tra, giải quyết hoặc cấp uỷ thành lập Tổ công tác (hoặc Tổ kiểm tra hay Đoàn kiểm tra, thanh tra) để kiểm tra, giải quyết.
- Đối với các vụ kiểm tra hoặc giải quyết khiếu nại, tố cáo xét thấy nội dung và đối tượng đỡ phức tạp, thì cơ quan Kiểm tra Đảng chủ động trực tiếp kiểm tra, giải quyết, trong đó trực tiếp giải quyết về những nội dung thuộc trách nhiệm của mình theo quy định của Điều lệ Đảng, quy định của Trung ương; phối hợp, thống nhất với Ban cán sự đảng cơ quan Thanh tra nhà nước trực tiếp kiểm tra về những nội dung thuộc trách nhiệm của Ban cán sự đảng Thanh tra nhà nước để giải quyết theo quy định của pháp luật. Kết thúc vụ kiểm tra hoặc giải quyết khiếu nại, tố cáo, cơ quan Kiểm tra Đảng lấy kết luận của cơ quan Thanh tra nhà nước làm cơ sở cho việc kết luận chung để giải quyết. Ngược lại, Ban cán sự đảng cơ quan Thanh tra nhà nước chủ trì, trực tiếp kiểm tra hoặc giải quyết khiếu nại, tố cáo chủ động phối hợp với cơ quan Kiểm tra Đảng để các cơ quan Kiểm tra Đảng trực tiếp giải quyết về những nội dung kiểm tra thuộc trách nhiệm theo quy định của Đảng.
II. Hoạt động của các tổ chức có chức năng thanh tra, kiểm tra, giám sát
Hoạt động của các tổ chức đảng có chức năng kiểm tra nói riêng và hoạt động của các cơ quan, tổ chức có chức năng thanh tra, kiểm tra, giám sát nói chung đạt được nhiều kết quả. Song, hệ thống tổ chức và sự hoạt động của các tổ chức có chức năng thanh tra, kiểm tra, giám sát hiện nay nổi lên tình trạng thiếu tập trung, thống nhất, chồng chéo, sơ hở dẫn đến các vụ kiểm tra, thanh tra, kiểm tra, giám sát nói chung, nhất là giải quyết vụ việc sau thanh tra, kiểm tra, giám sát nói riêng, đặc biệt là giải quyết khiếu nại, tố cáo không kịp thời, chính xác, chất lượng, hiệu quả đạt thấp, kỷ cương, kỷ luật đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước thiếu nghiêm minh và yếu kém.
Những khó khăn, lúng túng về tổ chức, hoạt động của các cơ quan, tổ chức có chức năng thanh tra, kiểm tra, giám sát hiện nay.
1. Về nhiệm vụ của các cơ quan, tổ chức có chức năng thanh tra, kiểm tra, giám sát: từng cơ quan, tổ chức đã được xác định rõ một số nhiệm vụ, nhưng trong đó có nhiệm vụ quy định cơ quan, tổ chức nào cũng phải thực hiện, đó là:
- Đối với các tổ chức đảng có chức năng kiểm tra: Xuất phát từ đặc điểm Đảng ta là đảng cầm quyền thì đảng viên vừa là thành viên của tổ chức đảng, vừa là công dân, vừa là thành viên của tổ chức nhà nước; đường lối, chính sách của Đảng được thể chế hoá bằng pháp luật của Nhà nước, đảng viên vi phạm pháp luật nhà nước là vi phạm kỷ luật đảng. Vì vậy, Điều lệ Đảng và các văn bản của Trung ương quy định, các tổ chức đảng phải kiểm tra việc chấp hành chính sách, pháp luật của Nhà nước trên tất cả các lĩnh vực và có nhiệm vụ giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với đảng viện.
- Đối với các tổ chức Thanh tra nhà nước:
+ Điều 8 Pháp lệnh thanh tra quy định: Các tổ chức Thanh tra nhà nước có nhiệm vụ: Thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật; xem xét, kiến nghị cấp có thẩm quyền giải quyết hoặc giải quyết theo thẩm quyền các khiếu nại, tố cáo.
+ Khoản 1 Điều 27 Pháp lệnh thanh tra quy định: Ban Thanh tra nhân dân có nhiệm vụ giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật; giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo.
2. Về đối tượng thanh tra, kiểm tra, giám sát
- Các tổ chức đảng, cấp uỷ, Uỷ ban kiểm tra các cấp có nhiệm vụ kiểm tra đối với mọi đảng viên nói chung và đối với đảng viên là cán bộ thuộc diện các cấp uỷ quản lý nói riêng (theo sự phân công cấp quản lý).
- Các tổ chức Thanh tra nhà nước có nhiệm vụ thanh tra Giám đốc sở, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã thuộc tỉnh, nhưng theo phân cấp về công tác quản lý cán bộ thì các chức danh trên do cấp uỷ quản lý, Uỷ ban kiểm tra có trách nhiệm kiểm tra dấu hiệu vi phạm, giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với các chức danh này.
3. Về quyền hạn của các cơ quan, tổ chức có chức năng thanh tra, kiểm tra, giám sát
- Điều lệ Đảng và các văn bản của Trung ương quy định: Các tổ chức đảng có chức năng kiểm tra có quyền xử lý kỷ luật đảng đối với tổ chức đảng và đảng viên có vi phạm từ khiển trách đến khai trừ ra khỏi Đảng, kiến nghị hoặc chỉ đạo các cơ quan nhà nước, các đoàn thể chính trị - xã hội xử lý kỷ luật về mặt nhà nước và kiến nghị thu hồi về vật chất.
- Pháp lệnh thanh tra quy định: Quyền hạn của các tổ chức Thanh tra nhà nước, Thanh tra nhân dân bao gồm 2 nội dung:
+ Một là, quyền được yêu cầu người đứng đầu các cơ quan, đơn vị trực thuộc phạm vi của thủ trưởng cơ quan cùng cấp tiến hành thanh tra hoặc phúc tra những việc theo phạm vi trách nhiệm của mình.
+ Hai là, quyền được kiến nghị người đứng đầu, thủ trưởng cơ quan cùng cấp giải quyết những vấn đề về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo mà người đứng đầu cấp dưới đã giải quyết.
- Xét riêng về nhiệm vụ giải quyết tố cáo:
+ Theo quy định của Điều lệ Đảng và quy định của Trung ương thì cấp uỷ và Uỷ ban kiểm tra có nhiệm vụ giải quyết tố cáo đối với đảng viên là cấp uỷ viên cùng cấp và cán bộ, đảng viên do cấp mình quản lý. Quyết định số 52-QĐ/TW ngày 05/5/1999 của Bộ Chính trị về việc giải quyết tố cáo đối với đảng viên là cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý có quy định cho Uỷ ban Kiểm tra Trung ương chủ trì giải quyết tố cáo, trực tiếp xem xét nội dung thuộc trách nhiệm của mình (nội dung liên quan đến những quy định về nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt nội bộ Đảng)
+ Khoản 7 Điều 11 Pháp lệnh thanh tra quy định: Thanh tra nhà nước giải quyết tố cáo với Bộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban nhà nước, thủ trưởng cơ quan thuộc Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ), Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh…, cán bộ giữ các chức danh trên thuộc diện Trung ương quản lý và giao cho Uỷ ban Kiểm tra Trung ương có trách nhiệm giải quyết tố cáo đối với các chức danh này.
+ Điều 62 Luật khiếu nại, tố cáo quy định: Chánh Thanh tra các cấp có thẩm quyền:
Xác minh, kết luận nội dung tố cáo, kiến nghị biện pháp xử lý tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết của thủ trưởng cơ quan cùng cấp khi được giao.
Xem xét, kết luận nội dung tố cáo mà thủ trưởng cơ quan cấp dưới trực tiếp của thủ trưởng cơ quan cùng cấp đã giải quyết, nhưng có vi phạm pháp luật; trong trường hợp kết luận việc giải quyết tố cáo có vi phạm pháp luật thì kiến nghị người đã giải quyết xem xét, giải quyết lại.
4. Về tổ chức bộ máy của các cơ quan, tổ chức có chức năng thanh tra, kiểm tra, giám sát
Ở đây xin nêu cụ thể về tổ chức bộ máy của cơ quan, tổ chức có chức năng thanh tra, kiểm tra, giám sát từ cấp huyện xuống cấp cơ sở hiện nay là:
a) Về tổ chức bộ máy:
- Uỷ ban kiểm tra huyện uỷ, thị uỷ biên chế có từ 4-5 cán bộ hoạt động chuyên trách; Uỷ ban kiểm tra Đảng uỷ cơ sở có từ 3-5 cán bộ hoạt động kiêm nhiệm.
- Thanh tra huyện, thị biên chế từ 4-5 cán bộ hoạt động chuyên trách. Thanh tra xã, phường theo quy định tại Điều 23 Pháp lệnh thanh tra là: chức năng thanh tra nhà nước ở xã, phường do Uỷ ban nhân dân cùng cấp trực tiếp đảm nhiệm và phân công một thành viên Uỷ ban nhân dân phụ trách để thực hiện 5 nhiệm vụ và quyền hạn theo quy định tại Điều 23 Pháp lệnh thanh tra.
- Tổ chức Thanh tra nhân dân: khoản 1 Điều 26 Pháp lệnh thanh tra quy định:
+ Ban Thanh tra nhân dân ở xã, phường, thị trấn do Mặt trận Tổ quốc cùng cấp tổ chức, chỉ đạo hoạt động.
+ Ban Thanh tra nhân dân ở cơ quan hành chính, sự nghiệp, đơn vị sản xuất, kinh doanh do đại hội của những người lao động bầu ra, Ban chấp hành Công đoàn cơ sở chỉ đạo hoạt động để thực hiện 4 nhiệm vụ, quyền hạn được quy định tại Điều 27 của Pháp lệnh thanh tra.
b) Về đội ngũ cán bộ:
Nhìn chung, cán bộ làm công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát chưa được đào tạo, bồi dưỡng một cách có hệ thống cả về kiến thức, trình độ, chuyên môn, nghiệp vụ cần thiết để thực hiện nhiệm vụ. Chế độ, chính sách cho cán bộ hoạt động chuyên trách chưa khuyến khích họ yên tâm công tác, cán bộ kiêm nhiệm không được hưởng phụ cấp và cũng không có đủ điều kiện thiết yếu để hoạt động.
5. Các cơ quan, tổ chức có chức năng thanh tra, kiểm tra, giám sát lại chưa có quy chế phối hợp với nhau để thực hiện nhiệm vụ thanh tra, kiểm tra, giám sát.
III. Một số nhận xét chung
- Nội dung thanh tra, kiểm tra, giám sát và đối tượng thanh tra, kiểm tra, giám sát quy định chồng chéo.
- Quyền hạn của các cơ quan, tổ chức thanh tra, kiểm tra, giám sát chưa có quy định cụ thể, đặc biệt là các vụ giải quyết chưa có quy định cho cơ quan nào có thẩm quyền ra quyết định cuối cùng có hiệu lực thi hành.
- Tổ chức biên chế bộ máy cán bộ, chính sách, chế độ, điều kiện thiết yếu cho tổ chức và cán bộ làm công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát bất cập so với nhiệm vụ được giao.
- Chưa có quy chế phối hợp giữa các cơ quan có chức năng thanh tra, kiểm tra, giám sát.
Trên đây là một số vấn đề chủ yếu dẫn đến tình trạng thanh tra, kiểm tra, giám sát chồng chéo, đùn đẩy, sơ hở, thiếu tập trung, thiếu thống nhất, không kịp thời, chính xác làm cho chất lượng, hiệu quả thấp, đó cũng là những vấn đề cần nghiên cứu để hoàn thiện cơ chế thanh tra, kiểm tra, giám sát, nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước./.
Ngô Đăng Huynh
Ủy ban kiểm tra Tỉnh uỷ Ninh Bình
Nguồn: www.giri.ac.vn