....“Giao hàng có kiểm soát” (controlled delivery) là một kỹ thuật rất quan trọng trong hoạt động điều tra tội phạm liên quan đến ma túy. Nó cho phép các cơ quan tiến hành tố tụng phát hiện và truy bắt những kẻ bí mật điều khiển từ xa các hoạt động phạm tội...
“Giao hàng có kiểm soát” (controlled delivery) là một kỹ thuật rất quan trọng trong hoạt động điều tra tội phạm liên quan đến ma túy.[1] Nó cho phép các cơ quan tiến hành tố tụng phát hiện và truy bắt những kẻ bí mật điều khiển từ xa các hoạt động phạm tội. Trên thế giới, ma túy có thể được sản xuất hoặc điều chế ở một nước nhưng tiêu thụ ở một nước khác, vì vậy sự phối hợp điều tra tội phạm giữa các nước rất quan trọng. Xuất phát từ lý do này, Công ước của Liên Hiệp quốc về Chống buôn bán bất hợp pháp các chất ma túy và chất hướng thần năm 1988 (Công ước 1988) yêu cầu các quốc gia thành viên “áp dụng những biện pháp cần thiết trong phạm vi khả năng của mình để sử dụng kỹ thuật điều tra giao hàng có kiểm soát trong hoạt động đấu tranh với tội phạm ma túy ở mức độ quốc tế”.[2] Các biện pháp cần thiết có thể bao gồm việc xây dựng cơ sở pháp lý cho phép các cơ quan tiến hành tố tụng được áp dụng kỹ thuật này trong hoạt động điều tra.[3] Ở các nước theo hệ thống luật Anh-Mỹ (common law states), kỹ thuật điều tra này được áp dụng khá phổ biến, nhưng ở các nước theo hệ thống luật Châu Âu lục địa (civil law states), việc sử dụng kỹ thuật giao hàng có kiểm soát có thể gặp một số khó khăn. Ở các nước theo hệ thống luật Châu Âu lục địa, một trong những nguyên tắc xử lý tội phạm là nhanh chóng, kịp thời; có nghĩa là ngay khi đã có đủ chứng cứ về hành vi phạm tội và người thực hiện tội phạm, các cơ quan tiến hành tố tụng phải tiến hành truy tố và xét xử người phạm tội.[4] Chính vì vậy, Công ước 1988 đã cung cấp một quy định mang tính chất “thỏa hiệp” đó là các nước không bắt buộc phải cho phép sử dụng kỹ thuật giao hàng có kiểm soát trong điều tra tội phạm về ma túy nếu những nguyên tắc cơ bản của hệ thống pháp luật quốc gia không cho phép điều này.[5]
Về phạm vi điều chỉnh, cần phải nhấn mạnh rằng Công ước 1988 chỉ yêu cầu các quốc gia cho phép sử dụng kỹ thuật giao hàng có kiểm soát ở phạm vi quốc tế. Công ước không điều chỉnh vấn đề áp dụng kỹ thuật này ở phạm vi quốc gia. Công ước 1988 xác định mục đích của biện pháp điều tra giao hàng có kiểm soát trên bình diện quốc tế là nhằm “xác định những người tham gia vào việc thực hiện tội phạm liên quan đến ma túy”[6], trong khi đó, pháp luật một số nước cho phép áp dụng kỹ thuật điều tra giao hàng có kiểm soát trong nhiều trường hợp khác nhau (ví dụ như: để xác định địa điểm tập kết ma túy hoặc để thu thập các căn cứ cho quyết định khám xét hoặc đơn giản chỉ là để xác định mức độ chính xác và độ tin cậy của một số thông tin về tội phạm...);[7]
Về đối tượng áp dụng kỹ thuật điều tra giao hàng có kiểm soát, theo quy định tại điểm g Điều 1 Công ước 1988, kỹ thuật điều tra giao hàng có kiểm soát chỉ được áp dụng đối với chất ma tuý, chất hướng thần và tiền chất bị nghi ngờ là bất hợp pháp hoặc đã được xác định là bất hợp pháp. Việc giới hạn phạm vi áp dụng như vậy bị cho là hạn hẹp và ở một mức độ nhất định đã hạn chế khả năng đấu tranh với tội phạm về ma túy. Có ý kiến cho rằng, điểm g Điều 1 Công ước 1988 cần được sửa đổi theo hướng mở rộng phạm vi áp dụng của biện pháp điều tra này.[8] Để trấn áp tội phạm liên quan đến ma túy, kỹ thuật điều tra giao hàng có kiểm soát cần được áp dụng đối với cả những công cụ, phương tiện dùng vào việc sản xuất ma túy, như máy dập viên hoặc các dụng cụ pha chế.... Ngoài ra, để phát hiện những người tham gia vào các đường dây buôn lậu ma túy xuyên quốc gia, kỹ thuật này cũng cần được áp dụng đối với các giao dịch chuyển tiền và tài sản thu được từ hoạt động bất hợp pháp.
Về biện pháp “giao hàng sạch”. Việc sử dụng kỹ thuật điều tra giao hàng có kiểm soát luôn có những rủi ro nhất định, ví dụ: kẻ phạm tội có thể tẩu tán các chất ma túy trước khi bị bắt. Do vậy, vì lý do an toàn, khoản 3 Điều 11 Công ước 1988 cho phép các quốc gia được áp dụng biện pháp “giao hàng sạch” (clean delivery), trong đó toàn bộ hoặc một phần chất ma túy bất hợp pháp bị thay thế bằng các chất khác. Tuy nhiên, việc áp dụng kỹ thuật “giao hàng sạch” phải rất thận trọng và phù hợp với pháp luật của quốc gia. Theo pháp luật của một số nước, một lượng chất ma túy bất hợp pháp phải được giữ lại trong lô hàng để chứng minh về hành vi phạm tội cũng như để làm căn cứ lượng hình.[9]
Từ năm 1997, Việt Nam đã là thành viên của Công ước 1988 và chịu ràng buộc bởi Điều 11 của Công ước về việc cho phép áp dụng kỹ thuật giao hàng có kiểm soát trong việc điều tra tội phạm liên quan đến ma túy ở phạm vi quốc tế. Chuyển hóa quy định này vào pháp luật quốc gia, Điều 51 Luật Phòng chống ma túy năm 2000 ghi nhận: “Nhà nước Việt Nam thực hiện yêu cầu chuyển giao hàng hóa có kiểm soát trên cơ sở điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia để phát hiện và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội về ma túy”. Ngoài ra, khoản 2 Điều 4 Nghị định số 05/2003/NĐ-CP ngày 21/01/2003 về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực phòng, chống ma túy cũng cho phép cơ quan có thẩm quyền của nước ta được “thoả thuận với cơ quan hữu quan của nước khác thực hiện yêu cầu chuyển giao hàng hóa có kiểm soát trên cơ sở điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia để phát hiện và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội về ma túy”. Như vậy, Luật Phòng chống ma túy năm 2000 và Nghị định số 05/2003/NĐ-CP đã đặt nền móng pháp lý cần thiết để Việt Nam hợp tác với các nước trong việc điều tra tội phạm về ma túy thông qua kỹ thuật giao hàng có kiểm soát. Về cơ bản, các quy định này đã đáp ứng được yêu cầu của Công ước 1988. Tuy nhiên, ngoài 2 điều luật đã viện dẫn, pháp luật tố tụng hình sự của nước ta chưa có những hướng dẫn cụ thể về việc áp dụng kỹ thuật điều tra này. Ví dụ, pháp luật nước ta chưa quy định về đối tượng áp dụng của kỹ thuật điều tra giao hàng có kiểm soát. Bởi vậy, vấn đề đặt ra là kỹ thuật này có được áp dụng đối với thuốc gây nghiện và thuốc hướng thần không? Kỹ thuật này có được áp dụng đối với phương tiện, công cụ phạm tội hoặc tiền, tài sản thu được từ việc thực hiện tội phạm liên quan đến ma túy không? Hiện tại, pháp luật tố tụng hình sự nước ta cũng chưa hướng dẫn về trường hợp “giao hàng sạch” (ví dụ: nếu kỹ thuật này được phép áp dụng thì những chất nào có thể dùng để thay thế chất ma túy và giới hạn số lượng ma túy được phép thay thế?). Ngoài ra, một số vấn đề về thủ tục tố tụng cũng chưa được điều chỉnh.Ví dụ, ai có thẩm quyền quyết định việc áp dụng kỹ thuật điều tra này; khi áp dụng biện pháp giao hàng có kiểm soát, cơ quan điều tra có cần sự phê chuẩn của Viện kiểm sát cùng cấp?
Hiện nay, pháp luật của các nước trên thế giới có những cách tiếp cận khác nhau về sự áp dụng kỹ thuật điều tra giao hàng có kiểm soát. Pháp luật của một số nước điều chỉnh rất chi tiết điều kiện cũng như thủ tục áp dụng (ví dụ pháp luật của Úc, Mỹ). Trong khi đó, pháp luật của một số ít nước khác lại không điều chỉnh chi tiết mà giao quyền linh hoạt ứng dụng cho cơ quan điều tra.[10] Tuy nhiên, xu hướng xây dựng khung pháp lý chi tiết điều chỉnh việc áp dụng kỹ thuật điều tra giao hàng có kiểm soát ngày càng phổ biến và các quốc gia thành viên của Công ước 1988 được khuyến cáo nên ban hành các quy định cụ thể để điều chỉnh vấn đề này.[11] Những quy định như vậy không những bảo đảm tính pháp chế trong hoạt động điều tra mà còn bảo vệ những điều tra viên tham gia vào hoạt động đấu tranh với tội phạm. Theo chúng tôi, nước ta cũng nên xây dựng khung pháp lý chi tiết hơn về việc áp dụng kỹ thuật điều tra giao hàng có kiểm soát trong điều tra tội phạm. Cụ thể là các vấn đề sau:
1. Về đối tượng áp dụng của kỹ thuật điều tra giao hàng có kiểm soát: biện pháp điều tra này không chỉ quan trọng trong hoạt động đấu tranh với tội phạm liên quan đến ma túy, mà còn các tội phạm khác như tội buôn lậu và vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới. Vì vậy, theo chúng tôi, khi quy định về phạm vi áp dụng của biện pháp điều tra giao hàng có kiểm soát, các nhà làm luật nên cân nhắc khả năng cho phép áp dụng kỹ thuật này đối với cả các tội buôn lậu quy định tại Điều 153 Bộ luật hình sự 1999; tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới quy định tại Điều 153 Bộ luật hình sự 1999.
2. Về kỹ thuật điều tra “giao hàng sạch”: Điều 51 Luật Phòng chống ma túy năm 2000 và Điều 4 Nghị định 05/2003/NĐ-CP về Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực phòng chống ma túy chưa đề cập đến vấn đề này. Để có cơ sở pháp lý cho việc áp dụng, pháp luật nước ta nên có quy định cho phép sử dụng biện pháp này trong những trường hợp cần phòng ngừa kẻ phạm tội tẩu tán các chất ma túy bất hợp pháp trước khi bị bắt. Các chất dùng để thay thế chất ma túy cần phải vô hại và có hình thức giống với chất ma túy bị thay thế. Số lượng chất ma túy được giữ lại khi áp dụng kỹ thuật này ít nhất phải bằng mức tối thiểu quy định tại khung hình phạt cao nhất có thể áp dụng. Ví dụ: đối với hành vi mua bán chất ma túy, số lượng nhựa thuốc phiện cần thiết giữ lại để lượng hình phải ít nhất là 5 kg, số lượng heroin hoặc cocain cần giữ lại ít nhất là 100 gram (xem khoản 4 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 về tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy, khung hình phạt cao nhất).
3. Về thủ tục tố tụng: do ý nghĩa quan trọng trong việc áp dụng kỹ thuật này, Chúng tôi cho rằng pháp luật tố tụng hình sự cần quy định rõ những người có thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp này như Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Viện kiểm sát quân sự các cấp ; Thủ trưởng và Phó thủ trưởng cơ quan điều tra các cấp. Các nhà làm luật cũng nên cân nhắc quy định: trong trường hợp cơ quan điều tra ra quyết định áp dụng thì quyết định đó chỉ có hiệu lực khi được Viện Kiểm sát nhân dân cùng cấp phê chuẩn.
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG HOA*
*NCS luật tại Trường Wollongong (Australia)
Nguồn: Tạp chí Khoa học Pháp lý