Tòa án hình sự quốc tế – một số vấn đề pháp lý cơ bản
10:8' 29/12/2008
Nhu cầu về một tòa án hình sự ở quy mô quốc tế đã được nhắc đến vào cuối thế kỷ XIX. Vào đầu 1872, Gustave Moynier, một người Thuỵ Sĩ, đã đưa ra ý kiến này khi chứng kiến sự bạo tàn của cuộc chiến tranh Pháp – Phổ (1870 – 1871). Tuy nhiên, tại thời điểm đó, một ý kiến như vậy đã không nhận được sự ủng hộ tích cực từ phía các quốc gia1.

1. Vài nét về quá trình hình thành Tòa án Hình sự quốc tế:

Nhu cầu về một tòa án hình sự ở quy mô quốc tế đã được nhắc đến vào cuối thế kỷ XIX. Vào đầu 1872, Gustave Moynier, một người Thuỵ Sĩ, đã đưa ra ý kiến này khi chứng kiến sự bạo tàn của cuộc chiến tranh Pháp – Phổ (1870 – 1871). Tuy nhiên, tại thời điểm đó, một ý kiến như vậy đã không nhận được sự ủng hộ tích cực từ phía các quốc gia1.

Lần đầu tiên Đại hội đồng (Liên Hợp Quốc) đã công nhận nhu cầu có một cơ chế thường xuyên nhằm truy tố những kẻ sát nhân và những tội phạm chiến tranh vào năm 1948 trong hai phiên tòa Nuremberg và Tokyo xét xử những tội phạm Đức Quốc xã2 và Nhật Bản3. Từ thời điểm đó trở đi, rất nhiều điều ước quốc tế đã xác định và nghiêm cấm các hành vi tội ác chiến tranh cùng với sự phát triển của luật quốc tế bảo vệ nhân quyền. Tuy nhiên những điều ước quốc tế đó lại không đưa ra được đề xuất khả thi nào về một cơ chế quy kết trách nhiệm hình sự của các cá nhân. Thế kỷ vừa qua đã chứng kiến những đau thương, mất mát tồi tệ nhất của nhân loại trong lịch sử. Chỉ riêng trong 50 năm vừa qua, đã có hơn 250 cuộc xung đột đã nổ ra khắp thế giới, hơn 80 triệu thường dân trong đó hầu hết là phụ nữ và trẻ em đã chết trong những cuộc xung đột đó và hơn 170 triệu người đã bị tước đoạt các quyền, tài sản và phẩm giá của họ4.

Chỉ đến khi Quy chế Rome về việc thành lập Tòa án hình sự quốc tế5 được thông qua thì một thiết chế quốc tế thường trực có thẩm quyền truy tố những kẻ vi phạm luật quốc tế về nhân đạo mới thực sự được hình thành. 160 quốc gia đã tham gia vào Hội nghị ngoại giao của Liên Hợp quốc (LHQ) được tổ chức tại Rome từ 15/6 đến 17/7/1998 để thành lập ra Tòa án hình sự quốc tế (International Criminal Court). Văn bản dự thảo được đệ trình tại Hội nghị lần này là kết quả của những cuộc đàm phán lớn và những thỏa hiệp rất thận trọng. Văn kiện đã được các đoàn đại biểu có mặt đồng ý thông qua trọn gói (package deal) bằng bỏ phiếu, trong đó có 120 phiếu ủng hộ, 7 phiếu chống và 21 quốc gia không tham gia bỏ phiếu. Đây là một sự kiện hết sức có ý nghĩa đúng vào lúc cả nhân loại kỷ niệm 50 năm ngày thông qua Tuyên ngôn thế giới về quyền con người (10/12/1948). Khi mới thông qua, nhiều luật gia đã dự đoán rằng phải mất vài thập kỷ mới đạt được con số 60 quốc gia phê chuẩn đủ để Quy chế có hiệu lực. Tuy nhiên, với việc 10 quốc gia phê chuẩn Quy chế ngày 11/4/20026, Quy chế sẽ bắt đầu phát sinh hiệu lực từ ngày 01/7/2002 căn cứ theo Điều 1267.

Quy chế được chia thành 13 phần và 128 điều khoản trong đó định nghĩa về các tội phạm hình sự, thẩm quyền xét xử, cơ cấu tổ chức, thẩm quyền của Tòa, chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của các cơ quan cũng như những nguyên tắc chung của luật hình sự, bản án, thủ tục tố tụng hình sự, việc thi hành các bản án và hợp tác trong lĩnh vực hình sự, đặc biệt nhấn mạnh đến những nguyên tắc của luật hình sự quốc tế…8. Căn cứ theo Điều 120, các quốc gia tham gia không được phép bảo lưu đối với bất kỳ điều khoản nào trong Quy chế.

2. Đặc điểm của Tòa:

Theo Điều 4 của Quy chế Rome 1998 thì Tòa án Hình sự quốc tế (dưới đây gọi tắt là “Tòa”) sẽ có tư cách chủ thể luật quốc tế và năng lực pháp lý để thực hiện các chức năng và những mục đích của mình. Căn cứ vào Quy chế, Tòa sẽ thực hiện các chức năng và quyền hạn của mình trên lãnh thổ của quốc gia thành viên Quy chế bất kỳ và căn cứ vào những thỏa thuận riêng, trên lãnh thổ của một quốc gia khác không phải là thành viên của Quy chế. Với tư cách chủ thể độc lập như vậy, Tòa sẽ thực hiện các quan hệ với LHQ dựa trên cơ sở những thỏa thuận song phương giữa Tòa với tổ chức LHQ. Tòa sẽ đặt trụ sở tại La Haye - Hà Lan. Ngôn ngữ làm việc chính thức của Tòa là tiếng Anh, Pháp, Nga, Tây Ban Nha, Trung Quốc và Arập. Tòa có những đặc điểm sau:

- Là một Tòa án thường trực (Permanent Court). Tòa hình sự quốc tế trong tương lai sẽ khác hai Tòa án quân sự Nuremberg và Tokyo xét xử những tên tội phạm chiến tranh Đức Quốc xã và Nhật bản cũng như Tòa án ad hoc về Nam Tư 9 và Rwanda10 về thẩm quyền theo địa lý và phạm vi thời gian. Hai Tòa ad hoc nói trên do Hội đồng Bảo an (HĐBA) LHQ thành lập và được ủy nhiệm nhằm xét xử chỉ những tội phạm được thực hiện tại những khu vực nói trên theo những khoảng thời gian xác định.

- Là một Tòa hình sự (Criminal Court). Tòa sẽ xét xử trực tiếp những tội phạm hình sự căn cứ theo những quy định của Quy chế. Do vậy, Tòa khác với Tòa án Công lý quốc tế (The International Court of Justice) có chức năng giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia là chủ yếu. Tòa hình sự quốc tế với ý nghĩa đó có cơ cấu tổ chức và hoạt động tương tự như các tòa hình sự của các quốc gia, trong đó có công tố viên (The Prosecutor) có chức năng điều tra và truy tố trước Tòa tương tự như chức năng của kiểm sát viên và công tố viên trong tòa hình sự ở các quốc gia. Mặt khác, những tội phạm được đưa ra xét xử trước Tòa là những tội phạm hình sự quốc tế nguy hiểm nhất đáp ứng các yếu tố cấu thành tội phạm căn cứ vào luật hình sự quốc tế (International Criminal Law), trình tự thủ tục để truy tố và đưa ra xét xử căn cứ vào những trình tự thủ tục tố tụng hình sự quốc tế (International Criminal Procedure).

- Là một thiết chế độc lập với các Tòa án hình sự trong nước. Thẩm quyền xét xử của Tòa là sự ‘bổ trợ” (Complementarity) đối với thẩm quyền xét xử của các Tòa án trong nước. Do vậy, Tòa không phải là một cấp xét xử cao hơn so với các Tòa trong nước hoặc là một Tòa phúc thẩm đối với các Tòa án quốc gia. Thẩm quyền xét xử của Tòa và hoạt động của Tòa không ảnh hưởng và chi phối đến thẩm quyền và hoạt động tương tự của các Tòa trong nước mà trái lại có sự độc lập một cách tương đối.

- Là một chủ thể của Luật quốc tế. Tòa án do các quốc gia độc lập có chủ quyền thỏa thuận thành lập nên với mục đích ngăn ngừa và trừng trị những hành vi nguy hiểm nhất xâm phạm đến cộng đồng quốc tế nói chung. Tòa được hình thành trên cơ sở điều ước quốc tế là Quy chế Rome 1998, trong đó chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, phạm vi hoạt động, thẩm quyền.. của Tòa được ghi nhận cụ thể. Tòa có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, thống nhất và có khả năng đảm bảo sự hoạt động ổn định, lâu dài. Tư cách chủ thể của Tòa độc lập với các quốc gia thành viên và hoạt động của Tòa căn cứ trên cơ sở những nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế và không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia thành viên.

- Tòa là một thiết chế độc lập với LHQ. Khác với Tòa án Công lý quốc tế11, Tòa có vị trí pháp lý độc lập với LHQ, điều đó thể hiện không chỉ ở cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ quyền hạn mà còn ở chỗ, Tòa có nguồn tài chính là sự đóng góp từ phía các thành viên chứ không phải sự hỗ trợ tài chính từ phía LHQ.

- Đối tượng chịu sự xét xử của Tòa là các cá nhân. Đặc điểm này giúp phân biệt với Tòa án Công lý quốc tế ở chỗ Tòa án Công lý quốc tế chỉ giải quyết các tranh chấp giữa các chủ thể của luật quốc tế mà thôi. Do đó Tòa án Công lý quốc tế không chấp nhận những vụ việc mà một bên hoặc các bên là những cá nhân.

3. Thành phần và tổ chức của Tòa:

a. Thành phần:

Theo Điều 34 Quy chế Rome thì Tòa Hình sự quốc tế gồm có 4 cơ quan chính: Chủ tịch Tòa án (The Presidency); 1 Bộ phận phúc thẩm (Appeals Division); 1 Bộ phận xét xử (Trial Division) và 1 Bộ phận Tiền xét xử (Pre-Trial Division); văn phòng Công tố viên (The Office of the Prosecutor) và Thư ký Tòa (Registrar).

- Chủ tịch Tòa án (The Presidency)

Theo Điều 38, Chủ tịch Tòa án bao gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch thứ nhất và Phó Chủ tịch thứ hai. Những người này sẽ được bầu trong số các thẩm phán với đa số tuyệt đối. Chủ tịch Tòa án là cơ quan chịu trách nhiệm về các công việc hành chính của Tòa trừ những chức năng thuộc về Văn phòng Công tố viên cũng như những chức năng khác được quy định trong Quy chế (Điều 38 (3), (b)). Để thực hiện tất cảnhững trách nhiệm của mình, Chủ tịch Tòa án sẽ hợp tác với sự nhất trí của Công tố viên về tất cả các vấn đề liên quan tới chức năng của nhau.

- Các Bộ phận của Tòa (Bộ phận xét xử, Bộ phận tiền xét xử và Bộ phận Phúc thẩm)

Theo Điều 39, ngay sau khi bầu ra các thẩm phán, Tòa sẽ tự lập ra các Bộ phận cụ thể càng sớm càng tốt. Các chức năng tư pháp của Tòa sẽ do các Ủy ban trong từng Bộ phận thực hiện.

Bộ phận Phúc thẩm (Appeals Division) sẽ bao gồm Chủ tịch Tòa án và 4 thẩm phán khác; Bộ phận Xét xử (Trial Division) sẽ gồm không quá 6 thẩm phán và Bộ phận Tiền xét xử (Pre-Trial Division) sẽ gồm không quá 6 thẩm phán. Nhiệm vụ cụ thể của các thẩm phán trong từng Bộ phận nói trên sẽ căn cứ vào tính chất của từng loại Bộ phận, tiêu chuẩn và kinh nghiệm của các thẩm phán. Do đó, thành phần của mỗi Bộ phận sẽ bao gồm một tỷ lệ thích hợp các nhà chuyên môn trong lĩnh vực luật hình sự và tố tụng hình sự quốc tế. Đặc biệt, các Bộ phận xét xử và Tiền xét xử sẽ bao gồm chủ yếu các thẩm phán có kinh nghiệm trong lĩnh vực xét xử tội phạm hình sự.

Các Ủy ban (Chambers) chính là những bộ phận hành chính (Administrative sub-units) của các Bộ phận. Theo Điều 39 (2), (c) thì trong mỗi Bộ phận có thể sẽ có nhiều hơn một Ủy ban tùy thuộc vào nhu cầu việc thực hiện có hiệu quả khối lượng công việc của Bộ phận. Ủy ban Phúc thẩm (Appeals Chamber) sẽ bao gồm tất cả các thẩm phán của Bộ phận Phúc thẩm. Các chức năng của Ủy ban xét xử (Trial Chamber) sẽ do 3 thẩm phán của Bộ phận xét xử thực hiện, các chức năng của Ủy ban tiền xét xử (Pre-Trial Chamber) sẽ do 3 thẩm phán của Bộ phận tiền xét xử hoặc một thẩm phán của Bộ phận tiến hành.

Chức năng và thẩm quyền của các Ủy ban được quy định một cách cụ thể trong nhiều điều khoản tương ứng chủ yếu tại phần II, III, V và VIII của Quy chế12.

- Văn phòng Công tố viên (The Office of the Prosecutor)

Văn phòng công tố viên là một cơ quan độc lập của Tòa chịu trách nhiệm tiếp nhận các đệ trình từ phía các quốc gia thành viên cũng như những đệ trình của Hội đồng Bảo an và những thông tin khác nhằm chứng minh về các tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa đồng thời tiến hành xem xét và thực hiện các hoạt động điều tra và truy tố các tội phạm đó trước Tòa. Công tố viên (Prosecutor) là người đứng đầu Văn phòng Công tố viên, có toàn quyền quyết định các vấn đề về quản lý và hành chính của văn phòng, như nhân viên, phương tiện bảo đảm hoạt động và những vấn đề khác (Điều 42 (1), (2)).

- Ban Thư ký Tòa án (The Registry)

Ban Thư ký của Tòa án sẽ chịu trách nhiệm về những vấn đề không thuộc chức năng tư pháp liên quan đến việc quản lý hành chính và phục vụ của Tòa. Đứng đầu là Thư ký Tòa (Registrar) là viên chức hành chính của Tòa hoạt động dưới quyền của Chủ tịch Tòa án. Thư ký Tòa sẽ có nhiệm kỳ 5 năm, có quyền bầu lại và phục vụ toàn thời gian (full-time basis). Thư ký Tòa sẽ được các thẩm phán bầu ra bằng bỏ phiếu kín có lưu ý đến sự giới thiệu của Hội đồng toàn thể các quốc gia thành viên (The Assembly of States Parties)13. Trong trường hợp cần thiết và theo sự giới thiệu của Thư ký, các thẩm phán có thể sẽ bầu ra Phó thư ký theo cách thức tương tự. Các Phó Thư ký sẽ có nhiệm kỳ 5 năm hoặc ngắn hơn theo sự quyết định của đa số tuyệt đối các thẩm phán.

b. Những tiêu chuẩn, sự đề cử và bầu chọn của các thẩm phán:

Tòa sẽ bao gồm 18 thẩm phán. Tuy nhiên Chủ tịch Tòa án có thể sẽ đề xuất một số lượng nhiều hơn 18 thẩm phán nhằm đáp ứng các yêu cầu công việc của Tòa. Chủ tịch Tòa án sẽ phải giải trình lý do để đề xuất số lượng đó tại một kỳ họp của Hội đồng toàn thể các quốc gia thành viên và sẽ được chấp thuận với tỷ lệ 2/3 số thành viên. Ngược lại, Chủ tịch Tòa án sau đó cũng có thể đề xuất một số lượng các thẩm phán ít hơn căn cứ vào số lượng công việc thực tế của Tòa. Tuy nhiên, trong mọi trường hợp, số thẩm phán sẽ không thể ít hơn 18. Đây là một thủ tục đơn giản và tương đối mềm dẻo cho phép điều chỉnh quy mô của Tòa căn cứ vào công việc thực tế của Tòa mà không cần thiết phải sửa đổi Quy chế.

- Tiêu chuẩn:

Theo Điều 36 (3), (b) thì những thẩm phán được chọn từ những người có phẩm chất đạo đức tốt, không thiên vị, liêm chính và có đáp ứng đầy đủ những tiêu chuẩn để được bầu vào những chức vụ tư pháp cao nhất ở nước họ. Thêm vào đó, các thẩm phán được đề cử phải có đầy đủ năng lực trong lĩnh vực luật hình sự và tố tụng hình sự cũng như có kinh nghiệm tham gia trong các vụ án hình sự như thẩm phán, công tố viên hoặc luật sư hoặc có năng lực trong những lĩnh vực liên quan của luật quốc tế như nhân quyền, luật quốc tế về nhân đạo và có kinh nghiệm sâu rộng trong chuyên môn pháp lý có liên quan đến chức năng và hoạt động của Tòa. Ngoài ra, họ còn phải có kiến thức sâu rộng và thông thạo ít nhất là một ngôn ngữ làm việc của Tòa.

Các thẩm phán sẽ không thể tham gia vào bất kỳ vụ việc nào mà có những cơ sở xác đáng để nghi ngờ về sự vô tư của họ. Các thẩm phán cũng có thể bị từ chối tư cách tham gia vào một vụ việc nếu trước đó họ đã đảm nhận một vị trí bất kỳ trong vụ án liên quan đến người đang bị điều tra hoặc cáo buộc trước Tòa hoặc trong một vụ án hình sự có liên quan đến người bị cáo buộc hoặc điều tra nói trên tại Tòa án quốc gia. Trong trường hợp này, yêu cầu xem xét tư cách của thẩm phán sẽ do Công tố viên hoặc bất kỳ người đang bị cáo buộc hoặc điều tra nào đưa ra và sẽ được quyết định bởi một đa số tuyệt đối các thẩm phán (Điều 41).

- Sự đề cử và bầu chọn thẩm phán của Tòa

Theo Điều 36 (4) thì các ứng viên sẽ do các quốc gia thành viên đề cử và họ phải là công dân của những nước đó. Một quốc gia có thể chọn lựa theo thủ tục đề cử ứng viên vào các chức vụ tư pháp cao nhất ở nước mình hoặc có thể quyết định thủ tục đề cử các ứng viên cho Tòa án Công lý quốc tế nhưng không thể có hai thẩm phán đồng thời là công dân của cùng một nước.

Khi bầu chọn các thẩm phán, các quốc gia thành viên sẽ phải lưu ý tới sự đại diện của các hệ thống pháp luật chính trên thế giới; sự đại diện cho các khu vực địa lý và sự cân bằng giữa tỷ lệ nam và nữ. Ngoài ra, các quốc gia thành viên cũng phải lưu ý đến yêu cầu của các thẩm phán phải chuyên sâu về các lĩnh vực đặc biệt như bạo lực đối với phụ nữ hoặc trẻ em.

Theo Điều 35, Tất cả các thẩm phán sẽ được bầu là những thành viên toàn thời gian (Full-time basis) của Tòa. Nhiệm kỳ của thẩm phán là 9 năm và sẽ không thể được bầu lại. Các thẩm phán sẽ được bầu bằng bỏ phiếu kín tại hội nghị bầu các thẩm phán của Hội đồng toàn thể các quốc gia thành viên, những thẩm phán trúng cử là những người có số phiếu cao nhất và được 2/3 số quốc gia thành viên có mặt bỏ phiếu.

Trong lần bầu cử đầu tiên, 1/3 số thẩm phán sẽ bầu bằng cách rút thăm cho một nhiệm kỳ 3 năm, những người này có thể được bầu lại với nhiệm kỳ toàn thời gian; 1/3 số thẩm phán sẽ được bầu bằng rút thăm với nhiệm kỳ 6 năm và số còn lại sẽ được bầu với nhiệm kỳ 9 năm. Đối với những thẩm phán được giao nhiệm vụ tại các Tòa xét xử và Tòa phúc thẩm, trong trường hợp nhiệm kỳ của họ đã hết, họ vẫn sẽ tiếp tục theo đuổi vụ án mà họ đã đảm nhận trước khi nhiệm kỳ của họ chấm dứt.l




4. Thẩm quyền xét xử của Tòa:

a. Một số nguyên tắc chi phối thẩm quyền xét xử của Tòa

- Nguyên tắc ex officio (thẩm quyền xét xử tự động của Tòa)

Theo Điều 12 (1) thì tất cả những quốc gia nào đã là thành viên của Quy chế sẽ chấp nhận một cách mặc nhiên thẩm quyền xét xử của Tòa đối với những tội phạm mà Tòa có quyền xét xử. Ở đây có một trường hợp đặc biệt được chấp thuận trên cơ sở đề nghị của Pháp gọi là điều khoản chuyển tiếp (Transitional Provision) đó là các quốc gia thành viên của Quy chế có quyền lựa chọn không chấp nhận thẩm quyền của Tòa khi xét xử những kẻ phạm tội là công dân hoặc hành vi phạm tội được thực hiện trên lãnh thổ của quốc gia mình trong một khoảng thời gian là 7 năm kể từ ngày Quy chế bắt đầu có hiệu lực đối với mình (Điều 124).

- Nguyên tắc Jurisdiction ratione temporis

Tòa chỉ có quyền xét xử đối với những tội phạm được thực hiện sau khi Quy chế đã bắt đầu có hiệu lực. Trong trường hợp một quốc gia trở thành thành viên của Quy chế sau ngày Quy chế có hiệu lực thì Tòa chỉ có quyền xét xử đối với những tội phạm được thực hiện sau ngày Quy chế bắt đầu có hiệu lực với những quốc gia đó, trừ khi quốc gia này có những tuyên bố khác chấp nhận thẩm quyền xét xử của Toà như những quốc gia không phải là thành viên của Quy chế (Điều 11).

- Nguyên tắc Ne bis in idem

Căn cứ theo Điều 20 (1), một người chỉ bị kết án hoặc được tha bổng vì những hành vi cấu thành tội phạm căn cứ vào những quy định trong Quy chế. Không ai có thể bị xét xử tại một tòa án khác vì những hành vi phạm tội thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa nếu người đó đã bị Tòa kết án hoặc tha bổng.

Ngược lại, nếu một người đã bị xét xử về một tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa tại một tòa án khác thì sẽ không bị xét xử trước Tòa, trừ trường hợp những trình tự tố tụng tại một tòa án khác nhằm mục đích bảo vệ cho người này khỏi trách nhiệm hình sự về những tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa, hoặc việc xét xử của một Tòa án khác được tiến hành không độc lập và khách quan theo những thủ tục quy định được luật quốc tế thừa nhận và được thực hiện theo những cách thức và trong những hoàn cảnh cụ thể là mâu thuẫn với ý định đưa người này ra xét xử.

- Nguyên tắc bổ trợ “Principle of Complementarity”1

Nguyên tắc này được khẳng định ngay trong lời nói đầu “các quốc gia thành viên … nhấn mạnh rằng Tòa hình sự quốc tế được thành lập theo Quy chế sẽ bổ sung cho thẩm quyền xét xử của các Tòa án quốc gia”. Điều 1 khẳng định “Tòa hình sự quốc tế là một thiết chế thường trực và có quyền xét xử đối với những cá nhân đã thực hiện những tội phạm quốc tế nguy hiểm nhất và sẽ là sự bổ sung cho thẩm quyền xét xử của các tòa án quốc gia..”. Do vậy, Tòa sẽ không thay thế thẩm quyền xét xử của Tòa án các quốc gia mà là sự bổ sung cho thẩm quyền Tòa án của các quốc gia trong việc xét xử những loại tội phạm nguy hiểm cho cộng đồng, đảm bảo rằng những loại tội phạm như thế sẽ phải bị trừng trị một cách đích đáng trên cơ sở luật pháp quốc tế và tôn trọng chủ quyền quốc gia.

Trên cơ sở của nguyên tắc này, căn cứ theo Điều 17 thì Tòa án sẽ xem xét và từ chối thực hiện quyền xét xử của mình nếu vụ việc đã hoặc đang được một quốc gia điều tra hoặc truy tố, kẻ phạm tội đã bị xét xử về những tội phạm được đề cập ở trên theo tinh thần của nguyên tắc ne bis in idem hoặc vụ việc là chưa đến mức độ nghiêm trọng để Tòa có thể đặt vấn đề xét xử đối với tội phạm đó.

Tuy nhiên, Tòa án sẽ thực hiện quyền xét xử của mình trong trường hợp vụ việc đang được Tòa án trong nước của một quốc gia điều tra hoặc truy tố nhưng quốc gia này lại không muốn hoặc thực sự không có khả năng tiến hành điều tra hoặc truy tố hoặc vụ việc đã được Tòa án trong nước của một quốc gia điều tra nhưng quốc gia này đã quyết định không truy tố kẻ phạm tội vì không muốn hoặc thực sự không có khả năng thực hiện điều đó

Như vậy, vấn đề mấu chốt ở đây khi đặt ra vấn đề Tòa có thẩm quyền xét xử một hành vi phạm tội khi mà Tòa án trong nước cũng có thẩm quyền tương tự là quốc gia có có khả năng hoặc mong muốn thực hiện việc truy tố và xét xử kẻ phạm tội hay không? Điều 17 (2) đã đưa ra một số tiêu chí để đánh giá “sự không mong muốn đưa ra xét xử” là:

- Quá trình điều tra và truy tố đã hoặc đang được tiến hành cũng như toà án trong nước đã đưa ra quyết định với mong muốn bảo vệ kẻ phạm tội khỏi trách nhiệm hình sự đối với những tội phạm mà Tòa có thẩm quyền xét xử.

- Có sự trì hoãn mà không lý giải được trong quá trình điều tra và truy tố mà trong những hoàn cảnh cụ thể lại mâu thuẫn với ý định đưa kẻ phạm tội ra xét xử

- Quá trình điều tra và truy tố đã và đang thực hiện là không độc lập và thiếu khách quan và quá trình này đã và đang được thực hiện trong những hoàn cảnh cụ thể lại mâu thuẫn với ý định đưa kẻ phạm tội ra xét xử.

b. Những điều kiện tiên quyết cho việc thực hiện thẩm quyền xét xử của Tòa

Đây là một vấn đề gây nhiều tranh cãi và thảo luận trong quá trình soạn thảo Quy chế Rome. Trong văn kiện cuối cùng, Quy chế đã quy định một cơ chế, theo đó Tòa sẽ bắt đầu xem xét thẩm quyền của mình theo một trong 3 trường hợp khi vụ việc được chuyển đến cho công tố viên:

- Bởi sự đệ trình của HĐBA theo đúng thẩm quyền được quy định tại Chương VII Hiến chương LHQ.

- Bởi đề nghị của một quốc gia thành viên bất kỳ của Quy chế Rome.

- Bởi một hành vi điều tra độc lập (proprio motu) của công tố viên trước khi Tòa được phép thực hiện quyền xét xử.

Đối với hai trường hợp sau, Quy chế ghi nhận quyền tài phán tự động (Automatic Jurisdiction) của Tòa đối với những quốc gia là thành viên của Quy chế (Điều 12 (1)). Theo đó, Tòa sẽ thực hiện quyền xét xử nếu như một hoặc một số quốc gia sau đây là thành viên của Quy chế, đó là quốc gia nơi hành vi phạm tội được thực hiện hoặc hành vi được thực hiện trên boong tàu thủy hay máy bay của nước nơi máy bay hoặc tàu thủy đó đăng ký (nguyên tắc lãnh thổ) hoặc quốc gia nơi kẻ phạm tội là công dân (nguyên tắc quốc tịch).

Trong trường hợp những quốc gia như trên không phải là thành viên của Quy chế nhưng chấp nhận thẩm quyền xét xử của Tòa thì Tòa vẫn có quyền xét xử.

- Sự đệ trình của HĐBA

Theo đúng Điều 13 (b) của Quy chế Rome, Tòa có thể thực hiện quyền xét xử của mình trong “trường hợp mà có một hay nhiều tội phạm xuất hiện được HĐBA đệ trình lên cho Công tố viên theo đúng Chương VII của Hiến chương LHQ”. Tuy nhiên với quyền phủ quyết của các thành viên thường trực của HĐBA thì thẩm quyền này sẽ bị hạn chế nếu như một trong số 5 thành viên thường trực phủ quyết2. Điều đó không những hạn chế thẩm quyền mà còn ảnh hưởng đến tính độc lập của Tòa.

Dự thảo cuối cùng phản ánh một giải pháp có tính dung hòa do đoàn đại biểu Singapore đưa ra3. Theo Điều 16, thì trong thời hạn 12 tháng khi HĐBA đã thông qua một nghị quyết căn cứ theo Chương VII Hiến chương thì Tòa không thể mở một cuộc điều tra. Những thành viên thường trực của HĐBA vì thế không thể gây khó dễ cho việc điều tra của Tòa bằng việc áp dụng quyền veto. Hơn nữa, HĐBA phải thực hiện một bước có tính khẳng định bằng việc thông qua một nghị quyết của mình nếu họ muốn ngăn chặn sự khởi đầu của việc truy tố Tòa tiến hành.

- Yêu cầu của quốc gia thành viên

Tòa cũng có quyền xét xử đối với một tội phạm được viện dẫn tại Quy chế khi một quốc gia thành viên đệ trình vụ việc lên trước Tòa phù hợp với Điều 14. Một quốc gia thành viên sẽ phải đệ trình kèm theo đó tất cả những tài liệu có liên quan đến vụ việc càng nhiều càng tốt. Kinh nghiệm từ những điều ước quốc tế về nhân quyền đã cho thấy, cho đến nay cơ chế dựa trên sự yêu cầu của các quốc gia thường ít sử dụng đúng mức, bởi lẽ các quốc gia ít khi sử dụng biện pháp này vì những lý do về chính trị và ngoại giao. Do vậy, dường như hầu hết các công việc của Tòa sẽ được thực hiện thông qua đệ trình của HĐBA hơn là khiếu nại của các quốc gia.

- Sự điều tra độc lập của các công tố viên

Căn cứ theo Điều 15, Công tố viên có thể mở một cuộc điều tra dựa trên những thông tin về tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa. Công tố viên sẽ phải phân tích tính nguy hiểm của những thông tin về tội phạm mà mình nhận được và vì vậy họ được trao cho quyền nhận những thông tin về tội phạm từ nhiều nguồn khác nhau bao gồm các quốc gia, các cơ quan của LHQ, tổ chức quốc tế liên chính phủ hoặc phi chính phủ và “những nguồn đáng tin cậy khác”4.

Quan điểm về một công tố viên với quyền điều tra độc lập bị phản đối mạnh mẽ bởi 4 trong số thành viên thường trực của LHQ (trừ Anh) và một số quốc gia như Ấn Độ và Pakistan. Những đoàn đại biểu này đã nhấn mạnh đến khả năng lợi dụng thẩm quyền của công tố viên và tình trạng bị xúi giục bởi những động cơ chính trị. Từ đó, trong Quy chế đã có nhiều điều khoản để đảm bảo quá trình truy tố này. Trên cơ sở đề xuất của Đức và Argentina, nếu kết luận rằng có những cơ sở chắc chắn để mở một cuộc điều tra, Công tố viên trước tiên phải chuyển vụ việc cùng tất cả những tài liệu có liên quan cho Uỷ ban tiền xét xử xem xét để nhận được sự đồng ý cho mở cuộc điều tra5. Tòa này có nghĩa vụ xem xét rằng có những lý do xác đáng để tiến hành cụôc điều tra và vụ việc dó có thuộc thẩm quyền của Tòa hay không để từ đó quyết định tiến hành cuộc điều tra. Đây có thể được coi là một thành tựu quan trọng trong việc hình thành một Tòa án độc lập.

Trong trường hợp Uỷ ban tiền xét xử từ chối trao quyền điều tra thì Công tố viên vẫn có thể tiếp tục đề nghị Uỷ ban xem xét lại quyết định đó nếu như họ xuất trình được những bằng chứng mới

- Sự đồng ý của các quốc gia thành viên

Sự đệ trình của HĐBA về một trường hợp vi phạm trước Tòa là không cần tính đến sự đồng ý của những quốc gia liên quan và được coi là một điều kiện tiền đề cho việc thực hiện thẩm quyền xét xử của Tòa. Đây là là một quyền vốn có của HĐBA căn cứ theo Chương VII Hiến chương LHQ. Tuy nhiên, Tòa sẽ không đương nhiên có thẩm quyền xét xử đối với những vụ việc do yêu cầu của một quốc gia thành viên bất kỳ hoặc dựa trên cơ sở sự điều tra độc lập của công tố viên. Trường hợp này, Quy chế Rome yêu cầu hai quốc gia nơi hành vi phạm tội thực hiện hoặc quốc gia mà kẻ phạm tội là công dân phải là thành viên của Quy chế. Nếu hai quốc gia nói trên không phải là thành viên của Quy chế Rome thì Tòa vẫn có quyền xét xử nếu như một hoặc các quốc gia đó chấp nhận ad hoc thẩm quyền của Tòa đối với một vụ việc cụ thể.

c. Những tội phạm thuộc quyền xét xử của Tòa

Theo Điều 1 Quy chế thì Tòa có quyền xét xử đối với những cá nhân về những tội phạm hình sự quốc tế nguy hiểm nhất được quy định trong Quy chế. Theo Điều 5 thì Tòa án sẽ xét xử đối với hầu hết những tội phạm nguy hiểm nhất do các cá nhân thực hiện, đó là tội diệt chủng, tội ác chống lại loài người, tội ác chiến tranh và tội gây chiến tranh xâm lược. Ba loại tội phạm đầu tiên đã được định nghĩa một cách cẩn thận nhằm tránh sự tối nghĩa, chung chung.

Tại Hội nghị Rome, nhiều quốc gia và các tổ chức quốc tế phi chính phủ đã ủng hộ rộng rãi cho việc ghi nhận tội xâm lược vào thẩm quyền xét xử của Tòa6. Tuy nhiên một định nghĩa về tội xâm lược đã không thể đạt được nhằm thỏa mãn tất cả các bên vì lý do không đủ thời gian. Kết quả là Quy chế đã quy định Tòa sẽ không có thẩm quyền xét xử đối với tội xâm lược cho đến khi các quốc gia thành viên đạt được một sự thống nhất tại một phiên họp khác nhằm xem xét lại vấn đề này bao gồm việc đưa ra định nghĩa, các yếu tố cấu thành và những điều kiện để từ đó xác định thẩm quyền xét xử của Tòa. Điều này sẽ được giải quyết tại một hội nghị nhằm xem xét lại vấn đề trên được tổ chức sau 7 năm kể từ ngày Quy chế có hiệu lực7. Điều quan trọng là Quy chế cũng không đưa ra một định nghĩa nào về các loại tội phạm mới mà chỉ là sự ghi nhận lại một cách cụ thể hơn vấn đề này trong các Quy chế quốc tế và tập quán quốc tế8. Mới đây nhất là Dự thảo Bộ luật về các tội ác chống lại hòa bình và an ninh của nhân loại do Uỷ ban Pháp luật quốc tế của LHQ đã đưa ra9.

Mặc dù có nhiều đề xuất về việc ghi nhận cả tội phạm khủng bố và tội phạm ma túy thuộc thẩm quyền của Tòa nhưng nhiều quốc gia đã không thể đi đến thống nhất với nhau về một định nghĩa chính thức về khủng bố, thậm chí một số quốc gia cho rằng việc điều tra về các tội phạm ma tuý thì vượt quá khả năng củaTòa. Cuối cùng, các quốc gia đã đi đến một nhất trí bằng một nghị quyết có tính chất khuyến nghị rằng các quốc gia thành viên sẽ xem xét việc tính đến loại tội phạm này trong một Hội nghị xem xét lại vấn đề trong tương lai10.

- Tội diệt chủng (genocide)

Tội diệt chủng bao gồm những hành vi cụ thể bị cấm đoán được liệt kê, ví dụ như giết chóc, gây ra những sự đe doạ nghiêm trọng) được thực hiện với sự cố ý, toàn bộ hoặc một phần nhắm vào một quốc gia, dân tộc, một nhóm sắc tộc hoặc tôn giáo. Diệt chủng là một trong số những hành vi có mục đích cố ý tiêu diệt toàn bộ hoặc một phần một cộng đồng người hoặc một dân tộc. Điều này làm cho tội diệt chủng có thể phân biệt với những loại tội phạm khác chống lại con người. Điều 6 của Quy chế Rome là sự ghi nhận lại định nghĩa về diệt chủng tại Điều 2 của Quy chế về ngăn ngừa và trừng trị tội diệt chủng năm 1948. Định nghĩa này được công nhận như những quy phạm tập quán trong luật quốc tế và vì vậy nó có giá trị ràng buộc đối với tất cả các quốc gia dù quốc gia đó có tham gia vào Quy chế 1948 hay không?

5 loại hành vi bị nghiêm cấm sau đây nhằm cố ý tiêu diệt toàn bộ hoặc một phần của một dân tộc, một chủng tộc hay một nhóm tôn giáo sẽ cấu thành nên tội diệt chủng. Đó là giết các thành viên của nhóm người đó; gây tổn hại nghiêm trọng về thể xác hoặc tinh thần cho các thành viên của nhóm người đó; chủ tâm bắt một nhóm người phải chịu đựng những điều kiện sống theo dự tính trước nhằm dẫn đến sự phá hoại về thể xác của họ; có ý định áp đặt những biện pháp nhằm ngăn chặn sự sinh đẻ của nhóm người đó và cưỡng bức chuyển giao trẻ em của một nhóm người này sang một nhóm người khác

Như vậy, diệt chủng về văn hóa (những hành vi cố ý thực hiện nhằm ý định ngăn chặn những thành viên của một nhóm người không cho một cộng đồng khác sử dụng ngôn ngữ, thi hành tôn giáo hoặc thực hiện nền văn hóa của họ sẽ không được xếp vào loại hành vi được định nghĩa trong Quy chế trừ khi những hành vi đó đồng thời là một trong số 5 hành vi bị cấm và nó được thực hiện với nghĩa được yêu cầu. Tương tự như vậy, định nghĩa diệt chủng cũng không bao gồm sự hủy diệt sinh thái (những hành vi được thực hiện với mục đích hủy diệt hoặc phá vỡ hệ sinh thái tại một khu vực nào đó) bằng việc tàn phá môi trường trừ khi hành vi đó đồng thời là một trong số 5 hành vi bị cấm và nó được thực hiện với nghĩa được yêu cầu.

Theo Điều 25 (3) (b) của Quy chế, bất kỳ người nào ra lệnh, gạ gẫm hoặc xúi giục người khác thực hiện hoặc cố gắng thực hiện các hành vi diệt chủng sẽ phạm tội diệt chủng. Những người: trực tiếp và công khai kích động người khác thực hiện hành vi diệt chủng”cũng sẽ bị coi là phạm tội diệt chủng (Điều 23 (b)). Điều 25 (3) (c) nhấn mạnh rằng những người trợ giúp, tiếp tay hoặc những hình thức giúp đỡ khác nhằm thực hiện hoặc cố gắng thực hiện hành vi diệt chủng sẽ bị coi là tội phạm diệt chủng. Mặc dù, trái với Điều 3 của Công ước 1948, sự đồng phạm trong việc thực hiện hành vi diệt chủng không được định nghĩa chính thức là một tội phạm, và Điều 23 (3) (d) khẳng định rằng những hành vi đó tương tự như hành vi diệt chủng.

- Tội phạm chống lại loài người (crimes against humanity)

Quy chế Rome đã phân biệt giữa tội phạm thông thường và tội phạm chống lại loài người thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa theo ba tiêu chí:

Thứ nhất, những hành vi cấu thành loại tội phạm này, ví dụ như hành vi sát nhân, phải là hành vi được thực hiện ở quy mô lớn hoặc một cách có hệ thống (widespread or systematic attack). Tuy nhiên, từ “tấn công” ở đây không chỉ bao gồm sự tấn công quân sự mà còn bao gồm những biện pháp về luật pháp hoặc hành chính như là trục xuất hoặc cưỡng bức di dời chỗ ở.

Thứ hai, đó phải là những hành vi trực tiếp chống lại một cộng đồng dân cư (against a civilian population). Do đó những hành vi đơn lẻ, cá thể, tản mác hoặc tình cờ sẽ không được coi là những tội phạm chống lại loài người và không thể bị truy tố về những tội đó.

Cuối cùng, những hành vi này phải được thực hiện theo chính sách của nhà nước hoặc chính sách của tổ chức (a state or organizational policy).Theo đó, những hành vi này có thể do những viên chức nhà nước hoặc những cá nhân hành động do bị cưỡng bức, tự nguyện hoặc chấp nhận. Tội phạm chống lại loài người có thể được thực hiện theo chính sách của một tổ chức nào đó, chẳng hạn những nhóm phiến loạn mà không có sự liên hệ nào với nhà nước.

Quy chế đã định nghĩa 11 loại hành vi, bao gồm các hành vi cố ý sát nhân; cố ý huỷ diệt với quy mô lớn nhằm trực tiếp vào các thành viên của một cộng đồng dân cư, bao gồm việc tước đoạt thực phẩm hoặc thuốc men với chủ ý nhằm gây ra sự hủy diệt đối với bộ phận dân cư đó; bắt giữ nô lệ – bao gồm các hành vi buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em; trục xuất hoặc cưỡng bức di dân – cưỡng bức những người dân phải rời bỏ nơi đang cư trú hợp pháp của họ trái với pháp luật, trục xuất khỏi đất nước hoặc cưỡng bức di dân trong phạm vi lãnh thổ quốc gia; cầm tù hoặc những những hình thức khác nhằm tước đoạt sự tự do thân thể một cách trái với những quy định của luật quốc tế về quyền con người; tra tấn – một cách cố ý gây ra sự đau đớn về thể xác hoặc tinh thần hoặc sự chịu đựng do bị giam cầm; hiếp dâm, nô lệ tình dục, cưỡng bức hành nghề mãi dâm, cưỡng bức có thai, cưỡng bức triệt sản hoặc những hình thức xâm phạm về tình dục nghiêm trọng khác. Hành vi hiếp dâm cũng như những hành vi bạo lực tình dục khác đồng thời cấu thành những hành vi phạm tội khác thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa như tra tấn là một tội phạm chống lại nhân loại hoặc tội phạm chiến tranh; sự ngược đãi, phân biệt đối xử nhắm vào một cộng đồng người xác định hoặc một tập thể về chính trị, màu da, quốc tịch, sắc tộc, văn hóa, tôn giáo … được công nhận rộng rãi bị cấm trong luật quốc tế; cưỡng bức mất tích – bắt giữ, cầm giữ hoặc bắt cóc với sự trao quyền, chấp thuận hoặc làm ngơ từ phía nhà nước hoặc một tổ chức chính trị, tiếp nối với việc từ chối công nhận sự mất tự do hoặc từ chối cung cấp thông tin về sự mất tích đó; tội apartheid – những hành vi phi nhân tính được thể chế hóa trong chính sách bao gồm việc đàn áp hoặc thống trị có hệ thống của một cộng đồng sắc tộc đối với một cộng đồng khác và cố ý duy trì chế độ đó và những hành vi phi nhân tính có đặc điểm tương tự gây ra sự mất mát to lớn hoặc gây thương tích nghiêm trọng cho con người về thể chất hoặc tinh thần.

Quy chế Rome đã khẳng định rằng những tội phạm chống lại nhân loại được thực hiện cả trong thời gian chiến tranh cũng như hòa bình. Mặc dù các Tòa án Nuremberg và Tokyo giới hạn sự xét xử của mình đối với những tội phạm được thực hiện trong thế chiến thứ hai, nhưng những văn kiện pháp lý quốc tế cũng như các án lệ hoặc những công trình nghiên cứu sau đó lại xác định rõ rằng không có sự đòi hỏi nào về việc hành vi phạm tội được thực hiện trong thời gian xung đột vũ trang hay không trong việc quy kết những hành vi là phạm tội chống lại nhân loại.

- Tội phạm chiến tranh (war crimes)

Những tội phạm chiến tranh được chia thành 2 nhóm chính.

- Thứ nhất, Tòa có thể xét xử những cá nhân bị cáo buộc là vi phạm nghiêm trọng 4 Công ước Geneva 1949, bao gồm những hành vi sau nhằm chống lại những loại người được Công ước bảo vệ, bao gồm thương binh, các thuỷ thủ của tàu bị đánh chìm hoặc hư hại, tù binh và những thường dân trong các vùng lãnh thổ bị chiếm đóng. Cụ thể là: chủ tâm giết chóc, tra tấn hoặc đối xử tàn bạo phi nhân tính bao gồm cả việc dùng con người để thực hiện những thí nghiệm sinh học; gây ra những tổn hại lớn hoặc những đau đớn về thể xác hoặc sức khỏe một cách có chủ đích; chiếm đoạt và hủy hoại rộng rãi đối với tài sản mà không thể biện hộ bằng các yêu cầu về quân sự và được thực hiện một cách bất hợp pháp và trái đạo lý; ép buộc những tù binh hoặc những người khác gia nhập quân đội của nước đối địch; cố ý tước đoạt quyền được xét xử công khai và bình thường của những người này và trục xuất, chuyển giao cũng như cầm giữ, bắt làm con tin một cách bất hợp pháp …

Thứ hai, Tòa cũng có quyền xét xử đối với một phạm vi rộng những hành vi khác vi phạm luật quốc tế về nhân đạo, bao gồm những vi phạm được ghi nhận tại Quy tắc La Haye và Nghị định thư I của Công ước Geneva và luật tập quán quốc tế liên quan; những sự tấn công vào thường dân; sự tấn công có chủ định vào cộng đồng dân cư, các mục tiêu dân sự, các đơn vị trợ giúp nhân đạo hoặc gìn giữ hòa bình cũng như sự tấn công vào các mục tiêu mà biết rõ rằng sự tấn công đó sẽ gây ra thiệt mạng hoặc thương vong cho thường dân hoặc thiệt hại cho các mục tiêu dân sự; đe dọa những người không có khả năng tự vệ như giết hoặc gây thương tích những binh sĩ đã đầu hàng; sử dụng những biện pháp bị cấm trong thời chiến như lợi dụng ngừng bắn, cờ, phù hiệu của LHQ cũng như Hội chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ, sử dụng các vũ khí bị cấm như đầu độc hoặc vũ khí độc, khí độc, cố ý sử dụng sự đói khát của thường dân làm công cụ chiến tranh, bắt lính hoặc gọi nhập ngũ đối với trẻ em dưới 15 tuổi hoặc những hành vi bị cấm thực hiện trong lãnh thổ bị chiếm đóng hoặc đối với công dân phe đối địch, như dời chuyển một cách trực tiếp hoặc gián tiếp dân cư của mình sang lãnh thổ bị chiếm đóng, hoặc trục xuất hoặc di chuyển toàn bộ hoặc một phần dân cư của vùng chiếm đóng, tước bỏ hoặc đình chỉ các quyền hợp pháp của công dân phe đối địch hoặc cưỡng ép họ tham gia vào các hoạt động quân sự chống lại chính nước của họ…

c. Sự không thừa nhận (challenge) thẩm quyền xét xử của Tòa:

Theo Điều 19 khoản 2 thì một bị cáo hoặc một người đã nhận được trát đòi hoặc lệnh bắt giữ của Tòa; một quốc gia có thẩm quyền đối với một vụ việc, dựa trên cơ sở cho rằng quốc gia đó đang tiến hành điều tra hay truy tố hoặc đã điều tra hay truy tố đối với vụ việc đó hoặc một quốc gia mà không phải là thành viên của Quy chế nhưng chấp nhận thẩm quyền xét xử của Tòa có thể yều cầu xem xét không chấp nhận đối với thẩm quyền xét xử của Tòa hoặc khả năng chấp nhận vụ việc của Tòa. Sự phản đối này sẽ được thực hiện trước hoặc vào lúc bắt đầu cuộc xét xử.

d. Trách nhiệm hình sự của cá nhân

Theo Điều 25, Tòa sẽ có quyền xét xử đối với những tự nhiên nhân theo đúng những quy định của Quy chế. Những cá nhân đã thực hiện một tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa sẽ chịu trách nhiệm cá nhân và gánh chịu các hình phạt do Quy chế quy định.

Theo khoản 3 Điều 25, một cá nhân phải chịu trách nhiệm hình sự và chịu hình phạt khi cá nhân đó thực hiện một hành vi phạm tội, không kể riêng lẻ, cùng với người khác hoặc thông qua người khác mà không tính đến việc những người này có chịu trách nhiệm hình sự hay không; ra lệnh, gạ gẫm hoặc xúi giục việc phạm tội; trợ giúp, tiếp tay hoặc những hình thức giúp đỡ khác nhằm tạo sự thuận lợi cho việc thực hiện tội phạm. Bên cạnh đó, việc một cá nhân đóng góp bằng các cách thức khác nhau cho việc thực hiện hoặc mưu toan thực hiện tội phạm cho một nhóm người hành động theo những mục đích chung cũng sẽ dẫn đến trách nhiệm hình sự của người đó. Những sự đóng góp đó là có chủ ý và nhằm mục đích thúc đẩy các hành vi phạm tội hoặc mục đích phạm tội của nhóm đó mà những hành vi hoặc mục đích phạm tội này cấu thành tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa; được thực hiện với sự hiểu biết về ý định của nhóm người này khi thực hiện tội phạm; đối với tội diệt chủng, là việc trực tiếp và công khai khuyến khích những người khác phạm tội diệt chủng hoặc cố gắng phạm một tội thông qua những hành vi khởi đầu bằng những biện pháp có tầm quan trọng to lớn mặc dù tội phạm vẫn không xuất hiện. Tuy nhiên, một cá nhân từ bỏ những cố gắng phạm tội của mình nếu không thì ngăn chặn tội phạm hoàn tất sẽ không bị trừng trị theo Quy chế về tội dự định phạm khi người đó hoàn toàn và tự nguyện từ bỏ ý định phạm tội. Theo điểm 4 thì trách nhiệm hình sự của cá nhân sẽ không ảnh hưởng đến trách nhiệm pháp lý quốc tế của quốc gia theo luật quốc tế. Đồng thời, theo Điều 26 thì Tòa sẽ không xét xử đối với những người dưới 18 tuổi vào thời điểm mà hành vi phạm tội được thực hiện

Theo Điều 27, trách nhiệm hình sự sẽ được áp dụng một cách bình đẳng đối với mọi người mà không có sự phân biệt dựa trên tư cách chính thức của người đó dù là người đó là một Nguyên thủ quốc gia, thành viên của chính phủ hoặc nghị viện, một đại diện được bầu hoặc là một viên chức chính phủ và nó cũng không vì những lý do đó mà giảm đi các hình phạt. Thậm chí, thẩm quyền xét xử của Tòa cũng sẽ không bị cản trở bởi những đặc miễn hoặc những quy tắc tố tụng đặc biệt đi liền với tư cách chính thức của một người căn cứ theo luật quốc tế và luật trong nước. Thêm vào đó, căn cứ theo Điều 28, một sỹ quan quân đội hoặc một người hành động một cách có hiệu quả như một sỹ quan quân đội cũng sẽ chịu trách nhiệm hình sự về loại tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa do lực lượng quân sự dưới quyền chỉ huy hoặc sự kiểm soát hiệu quả của người đó thực hiện, cũng như không ngăn chặn được sự vi phạm của các lực lượng quân sự đó. Đồng thời họ cũng không tiến hành các biện pháp cần thiết và hợp lý trong phạm vi thẩm quyền của mình nhằm ngăn chặn hoặc kiềm chế sự vi phạm cũng như không đệ trình vấn đề này lên nhà chức trách có thẩm quyền để điều tra và truy tố hành vi phạm tội.

Ngoài ra, một cấp trên cũng sẽ chịu trách nhiệm hình sự về những tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa do cấp dưới của mình thực hiện hoặc không ngăn chặn cấp dưới của mình thực hiện hành vi phạm tội, khi mà họ biết rõ ràng hoặc có ý thức bất chấp những thông báo một cách rõ ràng rằng các cấp dưới của mình đã thực hiện hoặc sắp sửa thực hiện tội phạm đó; hoặc tội phạm liên quan đến những hoạt động thuộc trách nhiệm và sự kiểm soát của mình hoặc không tiến hành các biện pháp cần thiết và hợp lý trong phạm vi thẩm quyền của mình nhằm ngăn chặn hoặc kiềm chế sự vi phạm cũng như không đệ trình vấn đề này lên nhà chức trách có thẩm quyền để điều tra và truy tố hành vi phạm tội

Trường hợp tội phạm do một người thực hiện trên cơ sở mệnh lệnh của cấp trên nhìn chung sẽ không làm nhẹ bớt trách nhiệm của người đó. Thêm vào đó, những thường dân thực hiện một cách có tích cực như những sĩ quan quân đội có thể phải chịu trách nhiệm hình sự khi họ biết hoặc chủ ý bất chấp những thông báo nói rõ về những hành vi phạm tội đang hoặc sắp sửa thực hiện.

e. Bản án và hình phạt:

Điều 77 quy định, Tòa có thể quyết định một trong số những hình phạt sau đối với một người đã thực hiện hành vi phạm tội thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa, đó là hình phạt tù giam mà không vượt quá 30 năm hoặc tù chung thân căn cứ vào sự đặc biệt nguy hiểm của hành vi phạm tội và những trường hợp cụ thể của người bị kết án

Trong trường hợp một người bị kết án về nhiều tội phạm thì Tòa sẽ tuyên án đối với từng tội phạm cụ thể và tổng hợp thời gian của hình phạt tù. Thời gian này sẽ không ít hơn mức cao nhất của mỗi bản án đã tuyên và không vượt quá thời hạn 30 năm tù hoặc tù chung thân.

5. Mối liên hệ giữa Tòa và HĐBA LHQ

Mối liên hệ giữa Tòa và HĐBA cũng như những vai trò tương ứng là một trong những vấn đề quan trọng được quan tâm trong suốt quá trình đàm phán tại Hội nghị Rome. Quy chế Rome 1998 đã đề cập đến 3 vấn đề liên quan đến mối quan hệ giữa HĐBA và Toà đó là:

Thứ nhất, Tòa không thể giải quyết những vấn đề liên quan hoặc trực tiếp liên quan đến những hành vi xâm lược, trừ khi có một sự xem xét trước của Hội đồng Bảo an rằng quốc gia bị cáo buộc đã có hành vi xâm lược.

Thứ hai, Hội đồng bảo an có thể đệ trình những vấn đề đến Toà theo đúng những quy định của Chương VII Hiến chương Liên Hiệp quốc.

Thứ ba, nếu không có sự chấp thuận của HĐBA thì Tòa án sẽ không thể tiến hành việc truy tố của mình nếu đã nảy sinh một vấn đề đang được HĐBA giải quyết theo Chương VII Hiến chương LHQ.

a. Vai trò của HĐBA đối với tội xâm lược:

Dự thảo Quy chế Rome do Uỷ ban Pháp luật quốc tế11 đưa ra đề xuất trước khi tiến hành việc truy tố, HĐBA sẽ xem xét rằng quốc gia bị cáo buộc có phạm tội xâm lược hay không. Tuy nhiên đề xuất này đã gặp nhiều sự phản đối từ phía các quốc gia tham gia tập trung vào hai vấn đề: thứ nhất, việc đó sẽ dẫn đến vấn đề chính trị hóa chức năng tư pháp của Tòa12, ảnh hưởng đến tính độc lập củaTòa như mục đích của việc thành lập là tạo ra một thiết chế độc lập, có thẩm quyền xét xử đối với những tội phạm nguy hiểm nhất đối với cộng đồng quốc tế13; thứ hai, trên thực tế, việc truy tố hành vi xâm lược nhằm vào những quốc gia thành viên thường trực của HĐBA là không thực tế bởi lẽ, những nước này có thể sử dụng quyền veto14 đối với bất kỳ sự điều tra và truy tố đối với mình.

Vấn đề này đã được đề cập tại khoản 2 Điều 5 Quy chế Rome 1998. Theo đó, tội xâm lược là một loại tội mà Tòa có quyền xét xử (khoản 1 điểm d). Tuy nhiên, Tòa chỉ có thể thực hiện quyền xét xử đối với loại tội phạm này sau khi có được một sự bổ sung vào Quy chế định nghĩa thống nhất về tội phạm này và những cơ sở để thực hiện quyền xét xử của Tòa. Những định nghĩa và những điều khoản có liên quan sẽ phải phù hợp với những điều khoản tương tự của Hiến chương LHQ. Theo Điều 39 Hiến chương LHQ, HĐBA LHQ có quyền xem xét có hay không có sự tồn tại của bất kỳ sự đe doạ nào đến hoà bình, sự phá hoại hoà bình hoặc một hành vi xâm lược. Như vậy, những xem xét của HĐBA có thể coi như là một điều kiện tiên quyết cho việc tiến hành truy tố trách nhiệm hình sự của các cá nhân đã thực hiện tội phạm xâm lược.

b. Vai trò của HĐBA trong việc đệ trình một tình huống ra trước Tòa:

Điều 13 điểm b quy định, Tòa sẽ có quyền xét xử đối với tội phạm căn cứ theo Điều 5 của Quy chế nếu như “một tình huống mà theo đó nảy sinh một hoặc nhiều tội phạm như vậy được HĐBA đệ trình cho Công tố viên”. Trong quá trình đàm phán có hai quan điểm đối lập về thẩm quyền này mà quan điểm phản đối dựa trên những lập luận tương tự như vấn đề tội xâm lược (đã đề cập ở trên). Tuy nhiên, hầu hết đại diện của các quốc gia đã nhất trí với việc ghi nhận vai trò của HĐBA trong việc đệ trình một tình huống ra trước Tòa với điều kiện việc đệ trình về tình huống đó phải theo đúng những quy định của HĐBA được quy định tại Chương VII Hiến chương LHQ (Điều 13 điểm b). Một tranh cãi khác đó là HĐBA sẽ đệ trình một vụ việc (case); vấn đề (matter) hay tình huống (situation)?15. Quan điểm thống nhất cho rằng HĐBA chỉ nên dừng lại ở việc đệ trình một tình huống mà theo đó một hoặc nhiều tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa xuất hiện, như vậy sẽ đảm bảo cho tính độc lập của Tòa trong việc điều tra, truy tố đối với tội phạm đó.

c. Sự trì hoãn tiến trình xét xử của Tòa

Vai trò thứ ba của HĐBA là dừng các quá trình tố tụng của Tòa đang tiến hành hoặc sắp sửa tiến hành. Như vậy, quá trình tố tụng của Tòa có thể bị ngừng lại hoặc bị ngăn cản khi mà HĐBA ra một Nghị quyết căn cứ theo Điều 24 và Chương VII của Hiến chương LHQ. Tuy nhiên sự tạm ngưng hoặc ngăn cản nói trên sẽ giới hạn trong một khoảng thời gian có thể gia hạn (a renewable period) là 12 tháng (Điều 16). Quy định này một mặt giải tỏa được sự lo ngại của các quốc gia khi cho rằng thẩm quyền này của HĐBA có thể làm ảnh hưởng đến tính độc lập của Tòa và sự chi phối của những yếu tố chính trị đối với hoạt động của Tòa, mặt khác phù hợp với thẩm quyền của HĐBA trong việc duy trì hoà bình và an ninh thế giới theo Điều 24, 25 cũng như Điều 103 Hiến chương LHQ16. Bởi lẽ, sau khi thời hạn trên chấm dứt, hoạt động điều ra, truy tố của Tòa sẽ không thể bị ảnh hưởng từ phía HĐBA.



TRẦN THĂNG LONG
Khoa Luật quốc tế ĐH Luật TP. HCM
Nguồn: Tạp chí Khoa học Pháp lý



1 History of the idea of an International Criminal Court - http://www.auswaertiges-amt.de/

2 Tòa án quân sự Nuremberg (The Nuremberg Military International Tribunal) được Liên Hợp quốc thành lập để xét xử những tội phạm chiến tranh Đức Quốc xã vào năm 1945

3 Tòa án quân sự Tokyo (the Tokyo Military International Tribunal) được Liên Hợp quốc thành lập để xét xử những tội phạm chiến tranh Nhật Bản vào năm 1945

4 Questions and Answers on the International Criminal Court – http://www.iccnow.org/

5 Nguyên bản tiếng Anh: The Statute of the International Criminal Court. Theo phân loại về tên gọi trong Luật Điều ước quốc tế thì “Statute” sẽ được gọi là “Quy chế”, dùng để chỉ một điều ước quốc tế quy định việc thành lập một tổ chức quốc tế nào đó, quy định chức năng, thẩm quyền, cơ cấu tổ chức và hoạt động của tổ chức quốc tế đó, ví dụ như Quy chế của Tòa án Công lý quốc tế (Statute of the International Court of Justice).

6 10 quốc gia gửi thư phê chuẩn đến Ban Thư ký của LHQ vào ngày 11/4/2002 là Bosnia – Herzegovina, Bungari, Campuchia, CHDC Công gô, Ailen, Jordani, Mông cổ, Nigiê, Rumania và Slovakia.

7 Điều 126 quy định “Quy chế sẽ có hiệu lực vào ngày đầu tiên của tháng tiếp theo sau 60 ngày kể từ khi Ban Thư ký của LHQ nhận được thư phê chuẩn, phê duyệt, chấp thuận hoặc gia nhập thứ 60” – Quy chế Rome 1998 về thành lập Tòa án hình sự quốc tế – Nguyên bản tiếng Anh.

8 Quy chế Rome 1998 về thành lập Tòa án Hình sự quốc tế (nguyên bản tiếng Anh) – http://www.un.org/icc/statute/status.htm

9 Tòa án hình sự về Nam Tư cũ – ICTY (International Tribunal for the prosecution of persons responsible for serious violations of international humanitarian law committed in the territory of the Former Yugoslavia) được thành lập bởi Hội đồng Bảo an LHQ theo Nghị quyết số 827 ngày 25 tháng 5 năm 1993, là một tòa án ad hoc với mục đích xét xử cá nhân chịu trách nhiệm về những vi phạm nghiêm trọng luật nhân đạo quốc tế trên lãnh thổ của Nam Tư cũ.

10 Tòa án hình sự về Rwanda – ICTR (International Criminal Tribunal for the prosecution of persons responsible for Genocide in the territory of Rwanda and other such violations committed in the territory of neighboring states) tương tự như ICTY được thành lập theo Nghị quyết số 995 của Hội đồng Bảo an LHQ nhằm xét xử những cá nhân đã thực hiện các cuộc thảm sát lớn , phạm các tội ác diệt chủng và tội ác chống lại loài người ở Rwanda, tháng 11 năm 1994.

11 Xem Điều 92 Hiến chương LHQ và Điều 1 Quy chế Tòa án quốc tế

12 Xem Quy chế Rome 1998 về thành lập Tòa án Hình sự quốc tế (nguyên bản tiếng Anh) – http://www.un.org/icc/statute/status.htm

13 Theo Điều 112 (1) thì Hội đồng toàn thể các quốc gia thành viên được thành lập bao gồm đại diện của tất cả các quốc gia là thành viên của Quy chế.



1 Xem The International Criminal Court – The Making of the Rome Statute : Issues, Negotioations, Results – Edited by Roy S. Lee – Kluwer Law International 1999 – Trang 41

2 Xem Điều 27 Hiến chương LHQ

3 Jurisdictional aspects of the Rome Statute for the new International Criminal Court - Timothy Mc Cormack and Sue Robertson - http://www.austlii.edu.au/au/journals/mulr/1999/25.html

4 Xem Điều 15 (2) Quy chế Rome 1998

5 Điều 15 (3 ) Quy chế Rome 1998

6 Views and Comments by Goverments - The International Criminal Court – The Making of the Rome Statute – Issues, Negotiations, Results – Edited by Roy S. Lee – Kluwer Law International – Từ trang 573 đến 639.

7 Xem Điều 121 Quy chế Rome 1998

8 Xem Công ước về ngăn ngừa và trừng trị tội diệt chủng 1948; 4 Công ước Geneva 1949 về bảo hộ nạn nhân chiến tranh; Công ước quốc tế về loại trừ các hình thức phân biệt chủng tộc 1965 …và một số Công ước quốc tế khác có liên quan.

9 Xem Draft Code of crimes against the peace and security of Mankind (Nguyên bản tiếng Anh) – http://www.un.org/law/ilc/texts/dcofra.htm10 Jurisdictional aspects of the Rome Statute for the new International Criminal Court - Timothy Mc Cormack and Sue Robertson - http://www.austlii.edu.au/au/journals/mulr/1999/25.html

11 ILC Draft Statute for an International Criminal Court (nguyên bản tiếngAnh) – http//:www.un.org/icc/statute/

12 The International Criminal Court – The Making of the Rome Statute – Issues, Negotiations, Results – Edited by Roy S. Lee – Kluwer Law International – Trang 144.

13 Lời nói đầu của Quy chế Rome 1998 (nguyên bản tiếng Anh) – http://www.un.org/icc/statute/status.htm

14 Điều 27 Hiến chương LHQ

15 The International Criminal Court – The Making of the Rome Statute – Issues, Negotiations, Results – Edited by Roy S. Lee – Kluwer Law International – Trang 147.

16 Điều 103 Hiến chương LHQ quy định: “trong trường hợp có sự xung đột giữa những nghĩa vụ của các thành viên LHQ, chiếu theo Hiến chương này và những nghĩa vụ, chiếu theo bất cứ một Hiệp định quốc tế nào khác thì những nghĩa vụ của các thành viên LHQ phải được coi trọng hơn”.

Ý KIẾN BẠN ĐỌC VỀ BÀI VIẾT NÀY

Họ và tên : *  
Địa chỉ :  
Email : *  
Ý kiến của bạn : *

Mã bảo vệ :

 

Các tin tiếp
Các tin trước
TIÊU ĐIỂM
Xem nhiều nhất