Về sự tham gia của người bào chữa vào quá trình tố tụng hình sự theo Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003
10:43' 29/12/2008

Quyền bào chữa là chế định quan trọng trong pháp luật tố tụng hình sự. Theo viện sĩ thông tấn Viện hàn lâm khoa học Liên xô (cũ) M. X. Xtrôgôvích thì “Quyền bào chữa của người bị buộc tội là tất cả các quyền năng tố tụng mà pháp luật quy định cho họ để bảo vệ trước mọi sự buộc tội và được họ sử dụng để bác bỏ sự buộc tội, để đưa ra các lý lẽ và chứng cứ trong việc biện minh hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của mình1.



Đảm bảo quyền bào chữa cho bị can, bị cáo2 là một nguyên tắc Hiến định (Điều 132 Hiến pháp 1992), một nguyên tắc rất quan trọng của tố tụng hình sự. Bất kỳ sự vi phạm nào nguyên tắc này trong quá trình giải quyết vụ án hình sự đều có thể là một trong những nguyên nhân dẫn tới những hậu quả xấu không chỉ đối với người bị buộc tội mà còn ảnh hưởng xấu đến uy tín của các cơ quan bảo vệ pháp luật nói riêng và uy tín của nhà nước nói chung. Với tinh thần cải cách tư pháp hiện nay khi chúng ta muốn quán triệt Nghị quyết 08 của Bộ Chính trị về việc giải quyết vụ án hình sự phải chủ yếu dựa trên kết quả tranh tụng tại phiên tòa thì sự tôn trọng nguyên tắc nói trên càng mang tính chất thiết thực hơn bao giờ hết.

Bị can, bị cáo có thể tự bào chữa cho mình nếu họ có khả năng làm việc đó như có kiến thức, có sự hiểu biết nhất định về pháp luật, biết sử dụng các quyền mà pháp luật cho phép để bác bỏ sự buộc tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho họ. Tuy nhiên, như chúng ta đã biết, không phải bất kỳ bị can, bị cáo nào cũng có khả năng thực hiện quyền bào chữa bằng cách này. Vì vậy, để đảm bảo quyền bào chữa cho người bị buộc tội, pháp luật tố tụng hình sự cho phép bị can, bị cáo có quyền nhờ luật sư, bào chữa viên nhân dân hoặc đại diện hợp pháp của họ thực hiện quyền bào chữa.

Theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành, người bào chữa được tham gia tố tụng từ khi có quyết định khởi tố bị can. Người bào chữa khi tham gia tố tụng để bào bị cáo có những quyền và phải thực hiện những nghĩa vụ mà pháp luật tố tụng hình sự đã quy định đối với người bào chữa.

Trong phạm vi bài này, người viết xin được trình bày một vài ý kiến về ba vấn đề: thứ nhất là thời điểm tham gia của người bào chữa, thứ hai là sự lựa chọn và thay đổi người bào chữa và cuối cùng là quyền và nghĩa vụ của người bào chữa.

- Về vấn đề thứ nhất: Thời điểm tham gia của người bào chữa.

Trước hết, Bộ luật tố tụng hình sự quy định cho người bào chữa được tham gia tố tụng từ khi có quyết định khởi tố bị can là phù hợp với điều kiện và tình hình kinh tế, chính trị và xã hội của nước ta trước đây.

Sau một thời gian thực hiện chính sách đổi mới, mở rộng giao lưu và hợp tác quốc tế, nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội; thực tế đã đặt ra nhu cầu hội nhập với các nước trong khu vực và các nước trên thế giới. Trong bối cảnh đó vấn đề thời điểm tham gia tố tụng của người bào chữa nói trên có còn phù hợp với mọi trường hợp tố tụng hình sự nữa hay không? Việc cho người bào chữa tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can có phải xuất phát từ quan điểm cho rằng việc buộc tội một người bị tình nghi thực hiện hành vi tội phạm chỉ bắt đầu từ khi khởi tố bị can hay không3? Việc buộc tội có khi nào được thực hiện trước thời điểm khởi tố bị can không4? Nếu có thì đó là những trường hợp nào?

Theo quan điểm cá nhân, người viết cho rằng trong trường hợp một người bị bắt quả tang hay bắt khẩn cấp và sau đó họ bị áp dụng biện pháp tạm giữ cũng có nghĩa là người đó đang bị cơ quan chức năng buộc tội về hành vi mà họ bị tạm giữ. Hơn nữa khi một người bị bắt và bị tạm giữ thì họ đã bị hạn chế quyền tự do về thân thể nên lúc này họ rất cần sự giúp đỡ về mặt pháp lý. Chính vì những lý do đó mà Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 (BLTTHS) đã quy định cho người bào chữa tham gia tố tụng từ khi người thực hiện hành vi phạm tội bị tạm giữ sau khi bị bắt quả tang, bị bắt khẩn cấp, bị bắt theo quyết định truy nã hoặc khi họ ra đầu thú hay tự thú trước cơ quan chức năng.

Để người bào chữa được tham gia tố tụng từ khi một người bị bắt giữ là hoàn toàn hợp lý. Đây là một quy định mới rất đúng đắn về mặt lý luận và phù hợp với điều kiện khách quan hiện nay. Trong những trường hợp khác người bào chữa được tham gia khi có quyết định khởi tố bị can như trước đây đã từng quy định.

Bây giờ chúng ta hãy cùng nhau xem xét quy định của BLTTHS năm 2003 về thời điểm tham gia của người bào chữa có giống với quy định về thời điểm tham gia của người bào chữa ở một số nước trên thế giới không.

Tham khảo quy định về thời điểm tham gia tố tụng của người bào chữa trong Bộ luật Tố tụng hình sự của Liên bang Nga ta thấy tại khoản 3 Điều 49 Bộ luật Tố tụng hình sự Liên bang Nga quy định người bào chữa được tham gia tố tụng từ thời điểm khởi tố bị can và trong những trường hợp khác là từ khi có quyết định áp dụng biện pháp tạm giữ, áp dụng các biện pháp cưỡng chế tố tụng khác đụng chạm đến quyền tự do thân thể hoặc khi quyết định áp dụng biện pháp giám định pháp y tâm thần.

BLTTHS của Cộng hòa Pháp quy định thời điểm cho người bào chữa tham gia tố tụng sau 20 giờ kể từ khi bị tạm giữ (Điều 63–4 BLTTHS Cộng hòa Pháp). Khoản 1 Điều 30 BLTTHS Nhật Bản quy định cho người bị tạm giữ có quyền mời người bào chữa cho mình trong bất kỳ thời điểm nào.

Như vậy, thời điểm được tham gia tố tụng của người bào chữa theo quy định của BLTTHS năm 2003 là hợp lý, phù hợp với thời điểm tham gia tố tụng của người bào chữa ở nhiều nước trên thế giới.

Tuy nhiên, khi nói về thời điểm được tham gia tố tụng của người bào chữa trong BLTTHS năm 2003 có một điểm làm cho người viết còn trăn trở, đó là chúng ta có nên hạn chế chỉ cho người bào chữa tham gia tố tụng từ khi kết thúc điều tra trong những trường hợp cần giữ bí mật điều tra đối với những tội xâm phạm an ninh quốc gia hay không?

Như chúng ta biết, những tội xâm phạm an ninh quốc gia thường là những tội rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng, là những vụ án rất phức tạp nên nếu để người bào chữa tham gia từ khi kết thúc điều tra thì khả năng bào chữa5 của họ sẽ bị hạn chế rất lớn, họ không có khả năng thu thập chứng cứ hoặc không thể thu thập đầy đủ chứng cứ để chứng minh sự vô tội, để làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị can, bị cáo và điều này có thể dẫn tới khả năng giải quyết vụ án thiếu khách quan hay không công bằng. Mặt khác, nếu xét về lý luận thì khi hạn chế sự tham gia sớm của người bào chữa trong những vụ án xâm phạm an ninh quốc gia, chúng ta đã không tuân thủ nguyên tắc đảm bảo quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật6. Còn nếu vì lý do sợ người bào chữa làm lộ bí mật điều tra, bí mật quốc gia mà không cho họ tham gia sớm hơn thì điều này lại chứng tỏ rằng chúng ta chưa tin tưởng vào khả năng xử lý trách nhiệm đối với người bào chữa khi họ vi phạm quy định của pháp luật hình sự về trách nhiệm hình sự7 của người bào chữa.

Về mặt kỹ thuật lập pháp, nội dung của khoản 1 Điều 58 BLTTHS là không phù hợp với nội dung của Điều 58 bởi vì nội dung của khoản này quy định về thời điểm tham gia tố tụng của người bào chữa chứ không phải quyền và nghĩa vụ của người bào chữa, vì vậy cần phải chuyển khoản 1 Điều 58 sang khoản 3 Điều 56 thì mới phù hợp8.

- Vấn đề thứ hai: Về sự lựa chọn và thay đổi người bào chữa:

Trong BLTTHS năm 2003 có bổ sung thêm một nội dung là “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên có quyền cử bào chữa viên nhân dân để bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là thành viên của tổ chức mình” là rất cần thiết vì từ trước tới nay việc cho bào chữa viên nhân dân được quyền tham gia bào chữa nhưng trong những trường hợp nào thì không được quy định cụ thể, nay quy định này khẳng định rõ ràng. Người viết cho rằng như vậy là hợp lý và không có ý kiến gì thêm về vấn đề này. Riêng vấn đề từ chối người bào chữa được quy định tại đoạn 2 khoản 2 Điều 57 BLTTHS năm 2003 thì người viết cho rằng cần phải hoàn thiện thêm vì như vậy là không hoàn toàn hợp lý. Việc không phân biệt quyền từ chối người bào chữa của hai nhóm đối tượng được quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 điều luật này là một sự không chặt chẽ về mặt lý luận9. Đối tượng được quy định tại điểm a hoàn toàn khác với đối tượng quy định tại điểm b.

Những đối tượng được quy định tại điểm a nhận thức được đúng đắn và đầy đủ hành vi từ chối người bào chữa của mình và họ biết được khả năng và hậu quả có thể xẩy ra khi họ từ chối người bào chữa. Và vì vậy để cho họ có quyền chủ quan tuyệt đối từ chối người bào chữa là hợp lý.

Còn những đối tượng được quy định tại điểm b là những đối tượng chưa đủ trình độ phát triển về thể chất cũng như tinh thần hoặc là những người bị khiếm khuyết về thể chất hoặc khiếm khuyết về tâm thần thì liệu họ có nhận thức được đầy đủ và đúng đắn về hành vi từ chối người bào chữa của mình hay không? Họ có thể hiểu được những hậu quả có thể xảy ra khi họ từ chối người bào chữa không? Người viết nghĩ rằng có trường hợp họ có thể hiểu được, nhận thức được mà cũng có những trường hợp không. Vì vậy cần phải phân biệt quyền từ chối người bào chữa của hai nhóm đối tượng này một cách rạch ròi hơn. Có nghĩa là nên cho đối tượng được quy định tại điểm a có quyền từ chối người bào chữa như quy định của pháp luật hiện hành còn nhóm đối tượng được quy định tại điểm b thì tuỳ từng trường hợp mà cơ quan tiến hành tố tụng quyết định cho họ có quyền từ chối hay không được từ chối người bào chữa.

Với những ý kiến nói trên, người viết cho rằng cần phải sửa đổi, bổ sung đoạn 2 khoản 2 Điều 57 BLTTHS năm 2003 như sau: “Những trường hợp được quy định tại điểm a khoản 2 điều này bị can, bị cáo vẫn có quyền yêu cầu thay đổi hoặc từ chối người bào chữa. Còn đôi với những trường hợp được quy định tại điểm b khoản 2 điều này thì bị can, bị cáo và đại diện hợp pháp của họ vẫn có quyền yêu cầu thay đổi người bào chữa và nếu họ từ chối người bào chữa thì tùy từng trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng phải làm rõ lý do từ chối trước khi quyết định”.

- Vấn đề thứ ba: Về quyền và nghĩa vụ của người bào chữa:

Có thể nói BLTTHS năm 2003 đã bổ sung khá đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của người bào chữa khi tham gia tố tụng. Đặc biệt là trong BLTTHS năm 2003 đã bổ sung quyền mới của người bào chữa là được thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến việc bào chữa từ người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người thân thích của những người này hoặc từ cơ quan, tổ chức, cá nhân theo yêu cầu của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nếu không thuộc bí mật nhà nước, bí mật công tác. Đây là một bổ sung rất quan trọng, giúp cho người bào chữa khả năng thực hiện tốt nhiệm vụ bào chữa của mình, đảm bảo cho việc buộc tội của Viện kiểm sát khách quan, không phiến diện, một chiều. Quy định cho người bào chữa được phôtô tài liệu có liên quan đến việc bào chữa là hoàn toàn xác đáng và phù hợp với điều kiện giải quyết các vụ án hình sự hiện nay.

Về quyền của người bào chữa, người viết xin có hai ý kiến đóng góp:

- Thứ nhất là nên bổ sung vào điểm a Điều 58 BLTTHS quy định “Đối với những người bào chữa tham gia theo quy định của điểm b khoản 2 Điều 57 Bộ luật này thì có quyền có mặt trong tất cả các buổi hỏi cung bị can”. Theo người viết thì sự tham gia của người bào chữa trong các buổi hỏi cung những bị can này là rất cần thiết và hợp lý.

- Thứ hai là tại điểm e của Điều 58 BLTTHS có quy định quyền gặp người bị tạm giữ, bị can, bị cáo đang bị tạm giam của người bào chữa thì người viết cho rằng ở đây cần quy định rõ là được gặp riêng và không bị hạn chế về số lượng lần gặp và thời gian gặp chứ không phải quy định chung chung là được gặp để tránh những sự gây khó khăn từ phía cơ quan và người thi hành tố tụng chỉ cho gặp một cách hình thức và hạn chế thời gian được gặp.

Cùng với việc ghi nhận những quyền mới nói trên, BLTTHS năm 2003 đã bổ sung và quy định rõ trách nhiệm của người bào chữa là phải tôn trọng sự thật và pháp luật; không được mua chuộc, cưỡng ép hoặc xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; không được tiết lộ bí mật điều tra mà mình biết được khi thực hiện việc bào chữa; không được sử dụng tài liệu đã ghi chép, sao chụp từ hồ sơ vụ án vào mục đích xâm phạm lợi ích  của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân. Để quy định về nghĩa vụ của người bào chữa hoàn chỉnh hơn, người viết cho rằng cần bổ sung vào điểm đ của Điều 58 cụm từ “nếu tiết lộ bí mật điều tra và” vào sau cụm từ người bào chữa nhằm đảm bảo cho việc giữ bí mật điều tra mà người bào chữa biết được khi tham gia tố tụng. Điều này dẫn tới tính khả thi của sự cho phép người bào chữa tham gia sớm hơn trong các vụ án xâm phạm an ninh quốc gia và các vụ án đặc biệt nghiêm trọng. Nếu chúng ta cứ quy định chung chung là không được tiết lộ bí mật điều tra mà không kèm theo quy định khả năng áp dụng chế tài nếu có sự vi phạm thì làm cho quy định đó thiếu tính khả thi.

<!--[if !vml]--><!--[endif]--> 

 


1 Xem: M. X. Xtrôgôvích, Giáo trình Luật tố tụng hình sự Xô viết, Tập 1, Nxb Khoa học, Matxcơva, 1968, tr. 196.

2 Một người khi bị cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố về hình sự đối với họ thì gọi là bị can, còn khi bị can đó bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử thì gọi là bị cáo (các điều 49, 50 BLTTHS).

3 Khác hẳn với quan điểm này có một số học giả cho rằng quyền bào chữa trong tố tụng hình sự có cả trong trường hợp mà ở đó không có sự buộc tội – Xem M. M. Vưđria “Chức năng bào chữa trong tố tụng hình sự Xô viết”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật Xô viết số 01, năm 1978, trang 89 và J. O. Môtôvilốpcơ “Các chức năng cơ bản của tố tụng”, Nhà xuất bản Iarôxlap, năm 1976, trang 48.

4 TS Phạm Hồng Hải cho rằng sự buộc tội đôi khi xuất hiện cả khi chưa có quyết định khởi tố bị can, trong trường hợp có người bị tạm giữ, xem “Đảm bảo  quyền bào chữa của người bị buộc tội”,TS, Luật sư Phạm Hồng Hải, Nxb CAND, 1999, tr.29.

 5 Người bào chữa phải tự mình đánh giá cần thu thập những chứng cứ gì mới tạo được khả năng bác bỏ sự buộc tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho thân chủ chứ nếu dựa vào những chứng cứ của bên buộc tội đã thu thập thì sự bào chữa chỉ trông chờ vào sự buộc tội không có căn cứ, buộc tội không đúng đắn, không thuyết phục của người buộc tội.

6 TS Phạm Hồng Hải còn cho rằng quy định như vậy không chỉ không phù hợp với nguyên tắc đảm bảo quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật mà còn là sự vi phạm nguyên tắc đảm bảo quyền bào chữa của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự– Xem “Bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội”, Nxb Công an nhân dân, năm 1999, tr. 159.

7 Thiết nghĩ để đảm bảo tính đồng bộ và tính khả thi của pháp luật thì trong BLHS cần phải được bổ sung tội “Làm lộ bí mật điều tra” vào chương 22, chương “Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp”. Trong BLHS  có quy định tội cố ý và tội vô ý làm lộ bí mật Nhà nước (các Điều 263, 264) nhưng chúng ta không thể áp dụng các điều luật này để truy tố người bào chữa khi họ làm lộ bí mật điều tra.

8 Chính vì sự sắp xếp không hợp lý này mà trong thực tiễn đã làm cho nhiều người áp dụng pháp luật có nhận thức là người bào chữa có quyền tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can. Rõ ràng đây không phải là quyền của người bào chữa vì người bào chữa không sử dụng quyền được tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can để chống lại sự buộc tội hay làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho thân chủ của mình. Khi tham gia tố tụng, người bào chữa có quyền được sử dụng các biện pháp luật định để bảo vệ thân chủ như đưa ra chứng cứ, đưa ra các yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng hay yêu cầu trưng cầu giám định, khiếu nại các quyết định của cơ quan và người tiến hành tố tụng, tranh luận với bên buộc tội … để làm sáng tỏ sự thật vụ án nhằm chứng minh sự vô tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho thân chủ. Và vì vậy khi nói đến thời điểm tham gia của người bào chữa thì cần phải hiểu đây là trách nhiệm của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng phải đảm bảo cho người bào chữa được tham gia đúng với thời điểm đã quy định của pháp luật tố tụng hình sự.

9 Trong các trường hợp nêu trên pháp luật TTHS Liên bang Nga không cho người bị buộc tội có quyền chủ quan tuyệt đối từ chối người bào chữa luật định (người bào chữa bắt buộc). Trong Bộ luật Tố tụng hình sự  Liên bang Nga ban hành ngày 22 tháng 11 năm 2001có quy định về thủ tục đặc biệt tại chương 40 (từ Điều 314 đến Điều 317). Thủ tục đặc biệt này cho phép bị cáo khi đã nhận ra tội lỗi của mình có quyền tự nguyện yêu cầu Tòa án ra bản án (những bản án phải dưới 5 năm tù giam) mà không cần tiến hành xét xử nếu công tố viên hay người bị hại không phản đối. Và khi Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục đặc biệt này pháp luật tố tụng hình sự đòi hỏi Tòa án phải mời người bào chữa tham gia nhưng nếu bị cáo từ chối người bào chữa đó thì sự chỉ định không có tác dụng, nghĩa là Tòa án giải quyết vụ án mà không có sự tham gia của người bào chữa, Tòa án không cần xem xét lý do bị cáo từ chối người bào chữa như những trường hợp bào chữa luật định nói trên.

NGUYỄN DUY HƯNG

Tiến sĩ, GV Khoa Luật Hình sự  - ĐH Luật TP.Hồ Chí Minh
Nguồn:  Tạp chí Khoa học Pháp lý 

Ý KIẾN BẠN ĐỌC VỀ BÀI VIẾT NÀY

Họ và tên : *  
Địa chỉ :  
Email : *  
Ý kiến của bạn : *

Mã bảo vệ :

 

Các tin tiếp
Các tin trước
TIÊU ĐIỂM
Xem nhiều nhất