Nguyên tắc hai cấp xét xử và việc áp dụng nguyên tắc đó vào việc tổ chức toà án các cấp
23:45' 30/8/2009


1. Quan niệm về nguyên tc hai cấp xét x

 

1.1. Nguyên tc hai cp xét xử trong các hthng pháp luật

 

- Khái niệm về cp xét x

 

Trong luật tố tng hình sự cũng như tổ chức tư pháp ngưi ta thưng đề cập ti cấp xét xử. Tuy nhiên, thế nào là cp xét xử li ca được đề cập đến trong khoa hc pháp lý nưc ta. Trong khoa hc pháp lý Liên xô , ngưi ta quan niệm cấp xét xnhư là “giai đon xem xét ván tại Toà án vi thẩm quyền xác định1. Quan niệm này ng đưc nhận thức tương đối phổ biến trong khoa hc pháp lý nưc ta. Xuất phát tđây, ngưi ta cho rằng trong tố tng tn tại các cấp xét xử là xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm, xét xử giám đốc thẩm và tái thẩm. Theo quan niệm này thì cấp xét xử đơn thuần là khái niệm tố tng chung, thhiện mt giai đon xét xnhất định trong quá trình giải quyết vụ án hình s, dân s, kinh tế, lao đng, hành chính v.v...

 

Theo chúng tôi, khái niệm cấp xét xử không phải là khái niệm tố tng đơn thuần. Cp xét xử là hình thc tổ chức tố tng thhiện quan điểm ca Nhà nưc về xét xử các ván nhằm bảo đảm tính chính xác, khách quan trong phán quyết ca Toà án, bảo vệ các quyền tự do dân chủ ca công dân. Vì vậy, các quc gia đều áp dng nguyên tắc vụ án có th đưc tổ chức xét xử nhiu lần và tchức hthng Toà án để thc hiện nguyên tắc đó trong thc tế. Cấp xét xử không đơn thun chỉ là thủ tc tố tng; nó còn liên quan nhiều đến cách tổ chức tố tng, tổ chức Toà án để thc hiện việc xét xử lại vụ án.

 

Hiện nay, trong pháp luật quc tế cũng như các quc gia đều thực hiện nguyên tắc hai cấp xét x. Tc vụ án mà bản án hoặc quyết đnh sơ thẩm ca có hiệu lc pháp luật ca Toà án bị kháng cáo, kháng nghị trong thi hạn định lut được Toà án cấp trên trc tiếp xét xử lại theo thtc phúc thẩm. Còn các bản án, quyết đnh ca Toà án có hiệu lc pháp luật đưc xem xét lại theo thủ tc giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.

 

- Nguyên tc hai cp xét xử và thủ tc xét xử:

 

Cấp xét xử là hình thức tổ chc tố tng. Cấp xét xử và thủ tc xét xử là hai khái niệm khác nhau, nhưng chúng có quan hmật thiết với nhau. Nguyên tắc hai cấp xét xử là quan điểm chung có hưng ch đạo trong tố chức tố tng; còn thủ tc tố tng là quy đnh cần tuân thđề thc hiện nguyên tắc hai cấp xét x. Nguyên tắc hai cấp xét xử đưc tổ chức thực hiện bằng các quy đnh cụ thể ca thtc tố tng trong pháp luật tố tng ca mi quc gia. Thủ tc tố tng quy đnh càng chính xác thì nguyên tắc này càng phát huy hiu quả ca nó trong bảo đảm xét xử đúng đắn, khách quan vụ án và bảo vệ có hiệu quả các quyn tự do dân chủ ca công dân, đặc biệt là ca nhng ngưi tham gia tố tng.

 

Để đảm bảo thực hiện đúng đắn nguyên tắc hai cấp xét x, theo chúng tôi, các thủ tc tố tng phi đáp ứng các yêu cầu sau đây:

 

+ Thnhất, đảm bảo đầy đủ các cơ sở pháp lý và tchức cho việc xét xử sơ thẩm ván mt cách khách quan, toàn diện, chính xác; mi vấn đđu được cấp sơ thẩm giải quyết;

 

+ Thhai, đảm bảo ti đa quyn kháng cáo ca các đương sđi với bản án, quyết định sơ thẩm. Đây là các quy định liên quan đến thời hạn kháng cáo, kháng nghị, liên quan đến quyn hạn ca Toà án cấp phúc thẩm v.v…;

 

+ Thba, thhin đy đủ rằng phúc thẩm là mt cấp xét x. Tính chất ca phúc thẩm phải là xét xca Toà án cấp trên trực tiếp đi vi ván mà bản án, quyết định ca Toà án cp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị trong thời hn pháp luật quy định. Thủ tc phiên toà phúc thẩm phải đưc tiến hành như xét xử sơ thm, nghĩa là phải có đầy đphần thtc bắt đầu phiên toà, thủ tc xét hi công khai tại phiên toà, thủ tc tranh luận, nghán và tuyên án; Toà án cp phúc thm có quyền quyết đnh về thực chất vụ án...

 

Chđáp ứng đy đcác yêu cầu trên, nguyên tắc hai cấp xét xử mi đưc thc hin

đng b, phúc thẩm mi trở thành mt cấp xét xử thc smà nguyên tắc đã khng định.

 

- Nguyên tc hai cp xét xử trong các hệ thng pháp luật:

 

Nguyên tc hai cấp xét xử là nguyên tắc đưc c định trong tố tng hiện đại. Nguyên tắc này đưc ghi nhn trong các công ưc quc tế, đặc biệt là Công ưc về quyền dân sự và chính trị ca Liên hp quốc, Quy chế về Toà án hình sự quc tế. Nguyên tắc này cũng đưc ghi nhn trong pháp luật quc gia ca các nưc thuc c hệ thống pháp luật khác nhau.

 

Tuy nhiên, nghiên cứu cách tchức hthng cơ quan tài phán cũng như thủ tc tố tng ca c nưc cũng có những điểm khác nhau. Nhng điểm khác nhau thhiện trong mt sđiểm sau đây:

 

+ Nhiều quc gia thực hiện thủ tc rút gọn trong xét xử các vụ án. Theo thủ tc này, mt số trình tự đưc lưc bđđảm bảo tính nhanh gn, hiệu quca quá trình tố tng;

+ Mt squốc gia áp dng thủ tc tố tụng sơ thẩm đng thời chung thẩm (các vụ án về ti vi cảnh, các vụ kiện tranh chấp có giá ngch thp…);

 

+ Hình thức mặc cả thú ti đưc sdng rt nhiều ở mt squc gia như Hoa K,

Đc…;

 

+ Về tổ chc hthng Toà án, nhiu quc gia tổ chức theo đơn vị hành chính lãnh th(pháp luật xã hi chnghĩa); các quốc gia khác kết hp nguyên tắc hành chính lãnh thổ và theo cấp xét x; các quc gia còn lại thì tổ chức theo cấp xét xử (hệ thng án lệ commol law), hệ thng pháp luật lc địa (legal law).

 

Tuy nhiên, cũng cần lưu ý là, ở nhiều nưc các Toà án đưc tổ chức theo cp xét x, nhưng điu đó không có nghĩa là việc xét xsơ thẩm toàn bộ các vụ án đu giao cho mt loại Toà án, còn xét xử phúc thm đưc giao cho mt loại Toà án khác… Tổ chc Toà án theo cấp xét xử ở đây đưc hiểu theo nghĩa tố tng, chứ không phi theo nghĩa tổ chức hành chính. Ví d, tại cng hoà Pháp có các loại toà sơ thẩm hình sự khác nhau là Toà vi cảnh, Toà tiểu hình và Toà đại hình; còn thẩm quyền xét xử phúc thẩm cũng do hai loại Toà án theo cấp hành chính khác nhau thực hiện.

 

1.2. Nguyên tc hai cp xét xử theo pháp luật Việt Nam

 

- Thời kỳ 1945 - 1960.

 

Ngay từ ngày đầu tn tại Nhà nưc dân chủ nhân dân, Nhà nưc ta đã thực hin nguyên tắc hai cấp xét x.

 

Về mặt tổ chức, Điều thứ 63 Hiến pháp năm 1946 quy định cơ quan tư pháp ca nưc Việt Nam dân chủ cng hoà gm có Toà án ti cao, các Toà án phúc thm, các Toà án đnhị cp và sơ cp. Theo Sắc lệnh số 85-SL ngày 22-5-1950 thì các Toà án ở nưc ta gm có Toà án nhân dân huyn, Toà án nhân dân tỉnh, Toà án nhân dân phúc thẩm khu hoặc thành phố và Toà án nhân dân ti cao; trong đó các Toà án nhân dân huyn và Toà án nhân dân tỉnh có thẩm quyn xét xử sơ thẩm c ván. Đến năm 1959, các Toà án phúc thẩm thành ph, liên khu đưc nhp lại thành các Toà án nhân dân phúc thẩm Hà Nội, Hải Phòng và Vinh vi nhiệm vụ ch yếu là xử lại những án bị kháng cáo ca các Toà án nhân dân thành phố và tỉnh. Các Toà án nhân dân phúc thẩm là mt cấp Toà án ở gia Toà án nhân dân tỉnh, thành phố và Toà án nhân dân ti cao (Thông tư số 92-Tc ngày 11-11-1959 ca Liên bộ Tư pháp, Toà án nhân dân ti cao).

 

Đến năm 1952, Nghđnh s32-NĐ ngày 6-4-1952 quy đnh thm quyn c c Toà án nhân dân, trong đó Toà án nhân n huyn có thm quyn t xsơ thm hoc t xsơ thm đồng thời chung thẩm mt sloi ván; Toà án nhân n tỉnh t xsơ thm và t xử phúc thẩm (chung thm) đối với c ván mà Toà án nhân n huyn đã t x sơ thm.

 

Như vy, Tc đtổ chc và tố tng, nguyên tắc hai cấp xét xử ở nưc ta thi kỳ này đưc thực hiện tương đối linh hoạt. Từ chtchức toà án theo cấp xét xử kết hp với hành chính lãnh thvi chc năng tố tng rõ ràng chuyển sang tổ chức toà án theo đơn vhành chính lãnh thổ là chyếu và phân công thc hiện chc năng tố tng trong mi Toà án. Việc xét xsơ thẩm đng thời chung thẩm được thc hiện đi với mt svụ án dân s, thương sự có giá ngạch thp, mt sván hình svề ti vi cảnh. Các Toà án phúc thẩm đc lập với Toà án nhân dân ti cao.

 

- Thời kỳ 1960 - 1988

 

Ngày 14-7-1960, Luật tổ chc Toà án nhân dân đu tiên đưc ban hành. Và cũng trong Luật này, ln đu tiên về mặt luật đnh nguyên tắc hai cấp xét xử đưc ghi nhn. Điều 9 ca Luật khẳng định: Toà án nhân dân thực hành chế độ hai cấp xét x. Đương squyn chng bản án hoặc quyết định ca Toà án nhân dân xử sơ thẩm lên Toà án nhân dân trên mt cp. Viện kim sát nhân dân ng cấp và trên mt cấp có quyn kháng nghị bản án hoặc quyết định sơ thm ca Toà án nhân dân. Nếu đương sự không chống án và Viện kim sát nhân dân không kháng nghị trong thi hn do pháp luật quy đnh thì bn án, quyết đnh sơ thẩm ca Toà án nhân dân địa phương sẽ có hiệu lực pháp lut. Bản án, quyết định phúc thẩm ca các Toà án nhân dân, bản án, quyết định sơ thẩm ca Toà án nhân dân ti cao là chung thẩm. Các bản án tử hình phải đưc Hi đng toàn thể thẩm phán Toà án nhân dân ti cao duyệt lại trưc khi thi hành.

 

Theo quy đnh ca điều luật thì chế độ hai cấp xét xử bao gmc nội dung sau đây:

 

+ c bn án, quyết đnh sơ thm ca Toà án nhân n đa phương bkháng o hoc kháng nghtrong thi hn lut đnh thì do Toà án trên mt cấp t xlại theo trình tphúc thm;

 

+ Toà án nhân dân tối cao có thm quyn xét xsơ thm đồng thi chung thẩm;

 

+ Bản án, quyết định có hiệu lc pháp luật là bản án, quyết đnh sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị trong thi hạn luật định, bản án, quyết định phúc thẩm và bn án, quyết đnh sơ thẩm ca Toà án nhân dân ti cao;

 

+ Các bn án tử hình chỉ đưc thi hành khi có hiệu lc pháp luật và đưc Hi đồng toàn thể thm phán Toà án nhân dân ti cao duyệt.

 

Đồng thời, Lut cũng quy đnh hthống Toà án c ta gm có Toà án nhân dân ti cao, c Toà án nhân n đa phương (theo đơn vhành chính lãnh th) và c Toà án quân sự.

 

Như vy, theo Luật tổ chức Toà án 1960 thì hệ thống Toà án nước ta được tổ chức theo đơn vị hành chính lãnh th. Các Toà án có thẩm quyn xét xsơ thẩm là Toà án cấp huyn và Toà án cấp tnh; các Toà án có thẩm quyền xét xử phúc thẩm là Toà án cấp tỉnh và Toà án nhân dân ti cao. Các Toà án nhân dân phúc thẩm bị bãi bỏ. Chc năng này do các Toà án nhân dân cấp tỉnh hoặc toà phúc thẩm Toà án nhân dân ti cao (toà chuyên trách) thực hin.

 

Về mặt tố tng, ngoài mặt giải quyết ni dung kháng cáo, kháng nghị, Toà án cp phúc thẩm có quyền hy bn án, quyết định sơ thẩm để Toà án sơ thẩm xét xử lại theo hưng nặng n dù không có kháng cáo, kháng nghị vvấn đđó. Còn Toà án xét lại bản án, quyết đnh đã có hiệu lc pháp luật có quyn sa bản án theo hưng có li cho ni bkết án…

 

- Thời kỳ từ 1989 đến nay:

 

Nhng tư tưởng chính ca Luật tổ chc Toà án nhân dân 1960 đưc giữ lại trong Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 1980 và Bộ luật Tố tng hình snăm 1988. Mặc dù chế độ hai cấp xét xử không đưc ghi nhận cụ thể trong các văn bản pháp luật này, nhưng nội dung cụ thể ca nó vn đưc thhiện đầy đ; có những ni dung có sự tiến bhơn. Ví dụ: vquyền hạn, Toà án cấp phúc thẩm không có quyền m xấu đi tình trạng ca bị cáo hoặc hubn án, quyết đnh sơ thẩm để xét xử lại vụ án theo ng làm nặng thêm tình trng ca đương sự nếu không có kháng cáo, kháng nghị vvn đđó.

 

Tuy nhiên, các văn bản pháp luật trên cũng còn những hn chế nhất đnh trong thhiện nguyên tắc hai cấp xét x. Đó là: 1) Vẫn quy đnh cho phép Toà án nhân dân ti cao xét xử theo trình tsơ thẩm đồng thời chung thẩm; 2) Xác định không chính xác tính chất ca phúc thẩm, đó là xét lại bản án, quyết đnh sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị chứ không phải xét xử lại vụ án mà bản án, quyết đnh bị kháng cáo, kháng nghị; 3) Thực chất, từ góc độ quyn hạn, giám đốc thẩm cũng đưc coi như mt cấp xét x, tc cũng xem xét chng cứ và ra phán quyết về thực chất vụ án.

 

Các hn chế nêu trên đã đưc khắc phc trong Luật Tổ chc Toà án nhân dân năm

2002 và Bluật Ttng hình s năm 2003. Nguyên tắc hai cấp xét xử lại đưc ghi nhn trong các văn bản pháp luật này; hubỏ thm quyn xét xử sơ thẩm đồng thi chung thẩm ca Toà án nhân dân ti cao; tính chất ca phúc thẩm được khng đnh là xét xử lại ván và bằng cách sa đi quyền hn ca Toà giám đốc thẩm, luật khẳng đnh rng đó chỉ là thủ tc đặc biệt (phá án) chứ không phải là mt cấp xét x… Các thay đi quan trng đó đưc thhiện tương đối cụ thể trong Bộ lut Tố tng hình sự năm 2003.

 

2. Nguyên tc hai cp xét xử và tổ chức ca tòa án

 

2.1. Tổ chức ca toà án trong các hệ thng pháp lut để thực hiện nguyên tc hai cp xét xử.

 

Nguyên tắc hai cấp t xử đưc thc hin bằng cách tổ chức hthng Toà án và các thtc tố tng cụ thể. Nguyên tc này có đưc thc hiện triệt để, chính xác hay không phụ thuc rất nhiều vào tổ chức hệ thng tư pháp nói chung và các cơ quan xét xử nói riêng. Trong các nưc thuc hthng pháp luật án lệ (commol law), các nưc thuc hệ thống pháp luật lc địa (legal law) hay các nưc thuc hệ thống pháp luật xã hi chủ nghĩa hthống Toà án được tổ chức theo mt trong các nguyên tắc nhất định là:

 

- Theo đơn vị hành chính lãnh thổ gm Toà án ti cao và Toà án địa phương. Về phn mình, tutheo đặc điểm lãnh thổ và dân cư mà các Toà án địa phương lại được tổ chức thành hai cấp (Toà án cấp tỉnh, Toà án cấp huyện) hoặc ba cấp (Toà án cấp tỉnh, Toà án cấp liên huyện và Toà án cấp huyện). Theo cách tổ chc này, mt Toà án có ththực hiện các chc năng xét xử khác nhau; Toà án ti cao, Toà án cấp tỉnh vừa xét xử sơ thm, phúc thẩm và giám đốc thẩm; còn Toà án cấp huyn chỉ xét xử sơ thẩm. Cách tổ chc này đặc trưng cho các nước theo hệ thng pháp luật xã hội chnghĩa;

 

- Theo cp xét xgm Toà án ti cao (Toà án phá án), các Toà án phúc thẩm và các toà sơ thẩm (Toà án vi cảnh, Toà án tiểu hình, Toà án đại hình). Các Toà án tổ chức theo cấp này thực hiện chức năng đưc xác đnh: Toà án ti cao thc hiện chc năng phá án, các Toà án phúc thẩm xét xử phúc thẩm, các Toà án sơ thm xét xsơ thẩm c vụ án. Cách tổ chức này đặc trưng cho hệ thống pháp luật án lệ (commol law);

 

- Theo cp t xkết hợp với nguyên tắc hành chính lãnh thgm Toà án tối cao (có chức năng phá án vàt x phúc thm), Toà án cp th hai (xét x phúc thm và sơ thm mt sván quan trọng) và Toà án cp thba (gồm c loi Toà án có chc ng t xsơ thm). Hthống Toà án y được tchức trên cơ snhn thức khoa hc vnguyên tắc hai cấp t x và coi cấpt x như là cách tchức ttụng ch không y móc coi đó là tchc hành chính pháp . Cách tchức y đc trưng cho hthống pháp lut lc đa (legal law).

 

Như vy, có thể nói rng việc tổ chức hệ thng Toà án ở các nước khác nhau phụ thuc vào truyn thống tổ chức tư pháp nước đó, vào hệ thng pháp luật và quan niệm về nguyên tắc hai cấp xét xử v.v…

 

2.2. Tổ chc ca toà án nước ta trong các giai đon khác nhau.

 

Trưc năm 1960, hệ thng Toà án nưc ta ch yếu được tổ chức trên cơ sở tiếp nhn hệ thông tư pháp chây Âu lc địa. Hệ thng Toà án bao gm Toà án ti cao, các Toà án phúc thẩm (toà Thượng thẩm), các Toà án sơ cấp và đnhị cấp. Trong đó các Toà án sơ cấp và đệ nhị cấp có thẩm quyn xét xsơ thẩm các loại án khác nhau.

 

Thi kỳ sau, các Toà án sơ cấp đưc đổi thành Toà án cấp huyn, các Toà án đnhị cấp đưc đi thành Toà án cấp tỉnh. Và như vậy, hệ thống Toà án bao gm 4 nấc; trong đó các Toà án phúc thẩm chđơn thuần làm nhiệm vụ xét xử phúc thẩm; còn các Toà án khác vừa là cơ quan xét xử, va là tổ chức hành chính pháp lý. Vì vy, mi quan hệ gia c Toà án vmặt tổ chc, hành chính cũng như tố tng có những sự phc tạp nhất định.

 

Trong thời kỳ này, pháp luật nưc ta cho phép các Toà án sơ cấp thẩm quyn xét xsơ thẩm đng thời chung thẩm các vụ án dân s, thương sđơn gin giá ngạch thấp, các vụ án hình svmt stội vi cảnh… đđảm bảo nâng cao hiệu quả xét xử ca Toà án, nng cũng không ảnh hưng đến quyền tự do dân chca công dân.

 

Tnăm 1960, bng vic ban hành Lut tchc Toà án nhân n đu tiên, hthống Toà án nưc ta đưc đi mi theo hướng tchc hoàn toàn theo đơn vhành chính lãnh th, gồm:

 

- Toà án nhân dân ti cao có thẩm quyn xét xử sơ chung thẩm, xét xử phúc thm, xét xử giám đốc thẩm và tái thẩm;

- Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trc thuc trung ương (Tán cấp tỉnh) có thẩm quyn xét xsơ thẩm, xét xử phúc thẩm, xét xử giám đốc thẩm và tái thm;

 

- Toà án nhân dân quận, huyn, thị xã, thành phthuộc tỉnh (Toà án cấp huyện) có nhiệm vụ xét xử sơ thẩm c loại ván với thẩm quyn hn chế. Thẩm quyn xét xsơ thẩm ca các Toà án cấp huyn dần dn được tăng cường;

 

Về mặt tố tng, pháp luật cũng quy định trưng hp xét xsơ thm đồng thi chung thm; nhưng đó là thm quyền ca Toà hình sự Toà án nhân dân ti cao và Toà án quân sự trung ương đối vi các vụ án đặc biệt nghiêm trng và thẩm quyn ca các Toà án quân sự thời kchiến tranh. Tuy nhiên, cùng vi việc xây dựng Nhà nưc pháp quyn xã hi chủ nghĩa, bo vệ các quyền tự do dân chca công dân, thẩm quyn xét xử sơ chung thẩm ca Toà hình sự Toà án nhân dân ti cao, Toà án quân sự trung ương đối với các vụ án đặc biệt nghiêm trng đã đưc bãi bỏ năm 2000 và thẩm quyn đó ca các Toà án quân sự được bãi bnăm 1986.

 

Vi phạm hành chính (ti vi cảnh) không còn đưc coi là ti phạm và thuộc thm quyn xlý ca cơ quan quản lý Nhà nước (xử lý hành chính), chứ không phải là cơ quan xét xử. Vì vậy, cũng không còn thủ tc sơ thm đồng thi chung thm loại vụ việc này.

 

2.3. Hoàn thiện tổ chức Toà án các cp đthực hiện nguyên tc hai cp xét xử.

 

Thc hiện chế độ hai cấp xét xử là nguyên tc đúng đắn ca Nhà nưc pháp quyền và tố tng hiện đại mà c Nhà nưc tiến bđều phải tuân th. Công cuc cải cách tư pháp, xây dng Nhà nưc pháp quyn xã hội chủ nghĩa đòi hỏi phải tổ chức thực hiện nguyên tắc đó vmặt tổ chc cũng như tố tng thế nào để thực hiện có hiệu quả nguyên tắc đó. Đây vấn đđang thu hút sự quan tâm ca nhiu nhà khoa hc pháp lý nưc ta.

 

Hiện nay, trong các nhà khoa hc và thực tiễn nưc ta tn tại hai quan điểm vvn đề này:

 

Nhng ni theo quan điểm thnhất cho rằng nên tổ chức Toà án theo đơn vị hành chính lãnh thổ hiện nay nhắm bo đảm tính thng nhất trong hệ thng tổ chức bmáy các cơ quan Nhà nưc; mối quan hhu cơ với c cơ quan pháp luật khác và đảm bo sự lãnh đạo xuyên sut ca Đng đối với Toà án các cấp. Vấn đề là cần dần dn tăng thẩm quyền cho các Toà án nhân dân cấp huyện cho đến lúc các Toà án này đnăng lực, điều kiện xét xsơ thẩm tất cả các vụ án. Lúc đó sẽ hình thành nên hệ thng Toà án theo cấp xét x: Toà án ti cao giám đốc thẩm, tái thẩm, Toà án cấp tỉnh xét xử phúc thm, Toà án cấp huyn xét xsơ thẩm;

 

Nhng ngưi theo quan điểm thứ hai cho rằng cn tổ chức Toà án theo cp xét xử gồm Toà án ti cao, Toà án phúc thẩm (lãnh thmt hoặc nhiu tỉnh) và Toà án sơ thẩm (qun, huyện hoặc liên qun, huyện). Nhng ngưi này cho rằng cũng với việc tổ chức này s đổi mi phương cách lãnh đo ca Đng đi vi các Toà án, quan hệ các cơ quan Nhà nưc khác với Toà án và điều quan trng là phân bhp lý cơ cấu các vụ án xét xử đỡ lãng phí vì có Toà án có rt ít án, có Toà án lại quá nhiều án và đảm bo cho các Toà án đc lập thực sự trong xét x.

 

Theo chúng tôi, các quan điểm nêu trên đu có yếu t hp lý về khoa học cũng như thực tiễn. Tuy nhiên, chúng tôi chia s với quan điểm thứ hai nhiu hơn, nhưng cần có cách nhìn nhn hp lý hơn. Đó là:

 

- Không thể chỉ tổ chc mt loại Toà án sơ thẩm. Việc dn tất cả các loại án với tính chất, mc độ nghiêm trng, phc tạp khác nhau vào thẩm quyền ca mt Toà án là bất hp lý, gây rất nhiu bất cập về tổ chc, cán b, trang bị, phương tiện cũng như thtc tố tng. Điều đó cũng khó phù hp vi xu thế xây dng Nhà nưc pháp quyn là mở rng phạm vi tài phán các tranh chấp trong xã hi. Vì vy, theo chúng tôi cần tổ chức hai loại Toà án sơ thẩm: Toà án xét xc vụ án nghiêm trọng, phc tạp và Toà án xét xử các vụ án ít nghiêm trng, đơn giản, rõ ràng.

 

Với thm quyn t xca Toà án hin nay thì đToà án cấp huyn và Toà án cấp tỉnh t xsơ thm tm thời là hợp . Tuy nhiên, nếu mrộng phạm vi i phán ca Toà án, thì cn tchức li hthống Toà án sơ thm 2 cấp (cấp thp nht ở từng qun, huyn, liên qun, huyn hoc mi qun, huyn có nhiều Toà án; cp cao n có thể ở từng tỉnh hoc mỗi tỉnh, thành phcó mt sToà án) vi đa sc ván được t xử ở Toà án cp thp nhất.

 

Đng thi cần nghiên cu quy đnh thủ tc xét xử sơ chung thẩm đối với mt số loại án tại Toà án cấp thp nhất đ đm bảo tiết kiệm và hiệu quca hoạt đng xét xử mà vn không nh hưng nhiều đến các nguyên tắc tố tng, nht là nguyên tắc hai cấp xét x;

 

-  Thành lập các Toà án phúc thẩm độc lập ở các vùng (giống như các Toà Thưng thẩm tc đây). Không nên coi Toà án phúc thẩm là Toà chuyên trách ca Toà án nhân dân ti cao. Vi chức năng phá án, tổng kết thc tiễn t x, hưng dn áp dụng thng nhất pháp luật và làm án lệ, không nên có mt Toà án ti cao vi hàng trăm thẩm phán như hiện nay. Các thẩm phán Toà án phúc thẩm không nên là thẩm phán Toà án nhân dân ti cao. Toà án nhân dân ti cao chgồm 15 đến 17 thẩm phán và cấu thành Hi đồng (toàn th) thẩm phán; tất cả các thẩm phán này đu tham gia vào các hoạt đng nghiệp vụ ca Toà án nhân dân ti cao.

 

PGS.TS. Trần Văn Độ - Toà án quân sự Trung ương

Nguồn:  Viện Nghiên cứu phát triển Thành Phố Hồ Chí Minh

 

1 Từ đin bách khoa pháp lý, NXB bách khoa xô viết, 1984, tr.126 (tiếng Nga).

 

 

Các tin tiếp
Các tin trước
TIÊU ĐIỂM
Xem nhiều nhất