Một số vấn đề về hình sự hoá, phi hình sự hoá các hành vi phạm pháp trên lĩnh vực kinh tế trong chính sách hình sự hiện nay
23:45' 30/8/2009


1. Vn đề hình sự hoá, phi hình sự hoá trong chính sách hình s

 

Trong các công cụ hữu hiệu mà Nhà nước ta sử dụng để đấu tranh với tội phạm phải kể trước hết đến pháp luật hình sự. Khả năng tác động đến hiệu quả của cuộc đấu tranh với tội phạm phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, trong đó phải tính đến việc đánh giá đúng đắn và xác định càng chính xác, càng cụ thể càng tốt những hành vi nguy hiểm cho xã hội. Và, vì thế đòi hỏi phải phân hoá cao độ các loại hành vi trong các đạo luật và đồng thời phải bảo đảm thường xuyên theo dõi, bổ sung, sửa đổi kịp thời (trong những giới hạn cho phép của hoạt động lập pháp) những quy định về hành vi nguy hiểm cho xã hội. Quá trình sửa đổi bổ sung đó thường xuyên được thực hiện theo hai xu hướng trái ngược nhau: một mặt, quy định bổ sung những hành vi mới được coi là tội phạm hoặc gia tăng mức độ hình phạt đối với một số loại hành vi nguy hiểm cho xã hội nào đó; và ngược lại, trên một phương diện khác, loại bỏ khỏi danh mục các hành vi được coi là tội phạm hoặc giảm thiểu các biện pháp và mức độ nghiêm khắc của hình phạt đối với những loại hành vi khác. Hai xu hướng tưởng chừng như mâu thuẫn nhau đó lại là sự thống nhất chặt chẽ, nếu không nói là biện chứng trong một quá trình thống nhất mà trong khoa học luật hình sự thường được nhắc đến: xu hướng hình sự hoá, tội phạm hoá và xu hướng phi hình sự hoá, phi tội phạm hoá1. Cả hai xu hướng này song song tồn tại và gắn liền hữu cơ với nhau, bởi vì, khi những hành vi xâm hại đến những nhóm mối quan hệ xã hội nào đó được coi là gia tăng tính nguy hiểm xã hội, thì ngược lại, những hành vi có tính chất và giá trị xã hội trái ngược nó lại xâm hại hoặc đe doạ xâm hại các mối quan hệ xã hội mà xét về tính chất mâu thuẫn với nhóm quan hệ xã hội kia.

 

Trưc đến nay, theo quan niệm ph biến trong xã hi và ngay cả trong gii luật học, thì “hình sự hoá, hay phi hình sự hoá cũng như ti phm hoá, phi ti phạm hoálà những vấn đthuc thẩm quyền ca nhà lập pháp. Bi vì, việc đánh giá mt hành vi nào đó là nguy hiểm cho xã hi, có li, đáng bị trng phạt và phải quy đnh trong Luật hình sự nói chung, là vấn đề thuộc thẩm quyền ca nhà lập pháp. Và cũng như vậy, quyết định công nhn mt hành vi, mt loại hành vi nào đó thưng xảy ra trong đời sng xã hi là ti phm, hoặc quyết định đưa ra khi các đạo luật hình snhững quy đnh về hành vi nào đó từng đưc coi là ti phạm không thlà thẩm quyn ca ai khác, ngoài cơ quan lập pháp. Tương tự như thế, vấn đề quy định tăng nặng trách nhiệm hình sự và hình phạt hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối vi nhng hành vi xsự xã hội nào đó đã đưc quy đnh trong Bộ luật hình scũng thuc thẩm quyền ca nhà lập pháp.

 

Về mặt lý luận khoa hc pháp lý, cho đến nay, các phm trù này cũng mới chđược đề cập và tha nhn chung rộng rãi trong Khoa hc Luật hình sự và trong Lý lun vchính sách hình s. Trong các lĩnh vực lý lun khác, các phạm trù “hình sự hoá, phi hình sự hoá”, “ti phạm hoá, phi ti phạm hoá” hầu như chưa đưc biết đến.

 

Vi lôgic đó, vn đề hình sự hoá hay phi hình sự hoá các quan hệ kinh tế, dân sự có thể đưc hiểu mt cách khái quát đó là việc nhà lập pháp chn khuynh hưng đưa vào hay loại trừ khỏi phạm trù hình s, nhng quan h pháp luật kinh tế hay dân sự nào đó hoặc quy định tăng nặng trách nhiệm hình s, hình phạt hay gim nhẹ trách nhiệm hình s, hình phạt đối với nhng loại hành vi nào đó xâm hại đến các quan hệ kinh tế, dân snhất đnh đã đưc luật hình sbảo vệ.

 

Thế nhưng, thời gian gần đây, vn đề hình sự hoá hay phi hình sự hoá các quan hệ kinh tế, dân sự lại được báo chí và dư luận xã hi nêu ra mt cách gay gắt, nhưng với những nội dung không hoàn toàn như thế. Và điều đó đòi hi chúng ta phải xem xét vấn đmt cách toàn diện hơn.

 

Trong quá trình nhà chc trách đại diện cho mt cơ quan nhà nưc thực hiện việc áp dng pháp luật, tc là phải m những việc: nghiên cứu hành vi, chn quy phạm pháp luật, ra những quyết đnh cụ th nào đó, thì đng thời cũng thực hiện s đánh giá trên cơ sniềm tin ni m ca mình đối vi nhng hành vi pháp luật nào đó và chủ thể thc hiện chúng theo nhng tiêu chí và trật tự nhất định. Trong đó, áp dụng pháp lut hình slà lĩnh vc pháp luật điều chnh mt cách khắt khe nht (cả về chủ thể áp dng, quyền và nghĩa vụ ca hvà cvề trật tự tự áp dng) vì liên quan đến những quyền cơ bn ca công dân. Vì thế, có thxẩy ra những hành vi áp dng pháp luật hình sự không phù hp với pháp luật.

 

Có thể có hai loại hành vi áp dng pháp luật hình sự không hợp pháp:

 

- Thnht, đó là hành vi ca c chủ thkhông có thẩm quyn áp dng các quy phạm pháp luật mang tính chất hình sự mà áp dng chúng đđiều chỉnh các quan hệ xã hi;

- Thhai, đó là hành vi ca c chthcó thm quyn áp dụng c quy phm pháp lut mang tính cht hình sđđiu chnh c quan hxã hội nhưng đã áp dụng sai, không đúng đi tượng điều chnh. Thực cht là đã sdụng c quy phm mang tính cht hình sđể điều chnh c quan hkinh tế, n sự. Vic áp dụng c quy phm lut mang tính cht nh sự ở đây được hiu là cc quy phm lut hình thc cũng như c quy phm lut nội dung.

 

Như vy bàn đến “hình sự hoá” ở đây không nên nhầm lẫn với hiện tượng ngôn ngữ vẫn thường thấy trong sách báo pháp lý dùng hình sự hoá các quan hệ kinh tế, dân svi mt ý nghĩa rng rãi hơn, đó là quá trình biến cải, dưi những motip khác nhau, các quan hệ kinh tế, dân sự nào đó thành các quan hệ hình s. Điều đó cũng có nghĩa rằng, trong áp dng pháp luật, hiện tượng “hình sự hoá các quan hệ kinh tế, dân s” là quá trình sdụng các quy phạm pháp luật mang tính chất hình sự đđiều chỉnh các quan hệ kinh tế, dân s. Về bản chất, xét trên cả hai phương diện lý luận cũng như thc tiễn, thì tất cả các loại hành vi hình sự hoá các quan hệ kinh tế, dân s đều là không hp lý và, nói chung, không hp pháp (nói chung, bi phải loại trừ trưng hp khi cơ quan lập pháp làm việc đó).

 

Như vy, ngoài phạm trù lập pháp, nếu có, thì chỉ có thể có vn đề là cần khc phc “hình sự hoá các quan hệ kinh tế, dân s” trong hoạt động thực tiễn ca các cơ quan tư pháp hình shoc có thẩm quyn thực hiện mt số hoạt đng mang tính chất tư pháp hình s. Bi vì chỉ có các cơ quan đó mi có thẩm quyền áp dng các quy phạm pháp luật mang tính cht hình s. Các cơ quan nhà nưc, các tổ chc xã hi và cá nhân hoạt đng trong lĩnh vc hành chính, dân s, văn hoá, xã hi khác... không thể có thẩm quyền áp dng các quy phạm pháp luật hình s, họ cũng không thể là chủ thể ca các hành vi sai trái này. Đng thi, hiện tưng “hình sự hoá” hoặc “phi hình sự hoá” như vy đối với các quan hệ kinh tế, dân smt cách vli thì có thxảy ra ở bất cứ giai đon nào ca tố tng hình s. Điều này cũng khng đnh rằng vn đđặt ra là vấn đề hoàn thiện hoạt đng ca các cơ quan tư pháp hình sự và các cơ quan được giao tiến hành mt shoạt đng điu tra, là vấn đề hoàn thiện các hoạt động điều tra, truy t, xét xử và thi hành án.

 

Hiện tưng “hình sự hoá các quan hệ kinh tế, dân sxảy ra trong thc tiễn pháp lý ca xã hội cần đưc hiểu: đó là sự áp dng pháp luật không đúng đắn; là hành vi vi phm pháp luật do áp dụng không đúng các quy phạm pháp mang tính chất luật hình s đđiều chỉnh các quan hpháp luật kinh tế, dân s. Bản chất ca hiện tượng này chính là áp dng pháp luật mt cách sai trái.

 

Cũng vậy, trên phương diện tư duy, cần hiểu rằng, “hình sự hoá các quan hệ kinh tế, dân s” mà chúng ta đang bàn ở đây là mt hiện tượng xã hi - hành chính, dân sự tiêu cc cần đưc khắc phc, chứ tuyệt nhiên không phải là mt hiện tượng chính trị - pháp lý, bởi nó không có cơ sở tư tưng chính trị cũng như không đưc quy phạm hoá vmặt pháp lý, mt hiện tưng cần phê phán chứ không thlà mt phm trù, mt chế đnh pháp lý, như mt vài tác giđã giải thích. Đng thi chỉ có thể bàn đến giải pháp khắc phc, loại tr, không thể nói ti khía cạnh cải tiến hay hoàn thiện.

2. Nhu cu và giới hn cn thiết của vic đi mới chính sách hình sphục vụ cuc đu tranh với ti phm kinh tế ở Việt Nam hiện nay

 

Tội phạm kinh tế, nhìn dưi giác đchính sách hình s, là khái niệm chung để chỉ tất cả các ti phạm có liên quan trc tiếp hoặc gián tiếp ti các hoạt đng ca c cơ quan, tổ chức trong việc vận hành nền sản xuất xã hi, thc hiện quá trình sản xuất, phân phối, lưu thông và bảo đảm scông bng, hp lý trong phân chia, thụ hưng các quyn li và các kết quvật cht khác do nền sản xuất xã hi mang lại.

 

Theo khái niệm đó, ti phạm kinh tế, trong BLHS 1999 bao gm c ti xâm phạm trật tự qun lý kinh tế (Chương XVI), các ti phạm về môi trưng (Chương XVII), các ti phạm về chc v(Chương XXI), mt số các ti xâm phạm shữu (Chương XIV) và cnhng ti phạm có mi liên hệ vi các quan hkinh tế hoặc li ích kinh tế ca Nhà c, ca xã hi đưc quy định trong các chương khác ca Bộ luật hình s.

 

Vì ti phm kinh tế dưi góc độ ti phạm học còn đưc hiu như mt b phn cu thành của (tình hình) ti phạm nói chung, nó là khái niệm tổng hp để chmt hiện tượng, mt tình trạng xã hi do nhiều bphận hp thành. Do vậy, bàn về chính sách hình sđi với ti phm kinh tế ở Việt Nam hiện nay, phải xem xét hết nhng khía cạnh liên quan đến các ti xâm phạm trật tquản lý kinh tế; các tội xâm phm shữu; các ti phm về chức vụ và các ti phạm khác có liên quan đến hoạt đng kinh tế.

 

Tội phạm kinh tế là mt hiện tượng phn kinh tế và là mặt trái của nền kinh tế. Nó luôn đeo bám mi diễn biến ca nền kinh tế và luôn tìm lỗ hng để chen chân, bám rễ. Sdĩ, cuc đấu tranh vi ti phạm kinh tế cam go là vì ngoài nhng nguyên nhân có tính quy luật khách quan, thì còn những nguyên nhân chủ quan xét từ góc độ Nhà nưc, ngay trong bộ máy nhà nưc vn còn chcho nó đeo bám. Nhng hành vi bất hợp pháp loại này còn ca đưc loại trừ n bởi vì bao giờ chúng cũng có vbc bên ngoài có vẻ hp lý không ít khi thì dư lun xã hi cũng bị ngộ nhận.

 

vy, điu quan trng hơn, theo tôi, hiện tượng tiêu cc cố tình vi phạm pháp luật trong quá trình áp dng pháp luật cần đưc xem xét cả trên phương diện đi lập vi cái gi là “hình sự hoá”. Những hành vi và ý đngưc lại dân sự hoá”, hay “kinh tế hoá”, “hành chính hoá” ... các quan hmang tính chất hình s, cũng nguy hiểm như bn thân hành vi cố ý hình sự hoá" các quan hệ không phải là hình s. Sử dng các quyền năng hành chính, các quy phạm pháp luật hành chính, kinh tế, dân sự thay cho các quy phạm pháp luật hình s, tố tng hình sự và đgiải quyết các vấn đề hình sđã đưc quy đnh trong pháp luật hình s, tố tng hình sự là những hành vi vi phạm pp luật.

 

Trong tham nhũng, có mt hiện tưng khá phbiến là các chủ thể có thẩm quyn thường áp dng nhằm mc đích vụ li, các chế đnh và các quy phạm pháp luật có chế tài nhhơn đxử lý các quan hệ xã hi mà đáng ra phải áp dng các quy phm có chế tài nghiêm khắcn, nhm mc đích vụ li. Trong sđó, mt tỷ lệ không nhlà các quan hệ đáng xử lý hình sđã đưc biến hoá thành các quan hệ kinh tế, dân s, hành chính và đưc áp dng các chế tài kinh tế, dân s, kỷ luật.

Mi hành vi cố tình áp dng sai pháp luật đu nguy hại cho xã hi. Hành vi áp dụng sai pháp luật đ vụ li còn nguy hạin. Nếu như hình phạt là loại chế tài nghiêm khắc nht và chbuộc phi áp dụng cho nhng trường hp hành vi vi phm nguy hiểm đáng kđối vi xã hội vì đã m hại đến nhng li ích, những quan hxã hội có ý nghĩa quan trọng đáng kt tmc tiêu và li ích giai cấp của nhà nước và chế đxã hi, thì ctình áp dụng pháp lut n s, hành chính thay cho pháp lut hình sđvli li càng cần được trừng tr. Loi hành vi y khá nguy him và đang trn khá phbiến rất cn được hình shoá trên phương diện lập pháp hình s. Bởi l, nếu hành vi cố ý áp dụng pháp lut hình s, khi biết rõ đó là các quan hkinh tế, n ssmang đến hqutrc tiếp thit hi nng n cho đi tượng báp dụng, thì ngược lại, c hành vi “dân shoá”, “kinh tế hoác quan hpháp lut hình s, tức ctình áp dụng pháp luật hành chính, n scho nhng trường hp biết rõ đó là quan hpháp lý hình sli mang li sthit hi trước hết cho li ích nhà nước, uy n và trt tpháp lut XHCN, ctính m trái những li ích ca stồn tại Nhà nước và chế đxã hội.

 

Một trong biểu hiện rõ t nht ca hiện tượng “phi hình shoá vlợitrong hot động thực tiễn chính là những hành vi tiêu cực cn được khái quát hoá chính c và cao độ bng thut ng“tham nhũng”. i cách khác, hin tượng "phi hình shoásai trái trong hot động thực tiễn áp dụng pháp lut, cũng là vn đđã và đang đt ra hết sc gay gt, nan gii.

 

Kinh tế thị trưng với nhng sbiến đi nhanh chóng và sđòi hỏi tính năng động cao đca cơ chế vn hành, tổ chc qun lý trong mi lĩnh vc. Nhưng chính sự năng động đó cũng to ra nguy cơ cao về vi phạm pháp luật. Trên phương diện xã hi học hành vi, dễ thấy rằng hiện tượng xé rào (vi phạm hành lang pháp lý) và tính năng đng trong kinh doanh, qun lý kinh doanh là luôn luôn đứng bên nhau. Chính điu đó cũng dn đến nguy cơ cao về sai phạm trong áp dng pháp luật đxử lý các vi phm. Ranh gii gia cái hình sự và hành chính, kinh tế, dân sự rất mng manh, dnhầm lẫn. Và đó chính là cu cánh cho nhng ý đồ và hành vi cố ý “hình sự hoá” vụ li các quan hệ kinh tế, dân s.

 

Về mặt pháp luật, những điểm chưa hoàn thiện trong pháp luật hình schính là mảnh đất tt để gieo cấy những động cơ vụ li đó. Ví d, việc đưa vào trong Bộ luật hình sự những quy đnh, những chế i tunghi với di phân cách rộng có ththun li cho người áp dụng pháp lut nhưng đồng thời cũng tạo ra nguy cơ cao ca stutiện, theo xu hướng cố ý áp dụng sai trái đvlợi bng việc “phi hình shoá(hoc hình shóa”) biến o c nh vi ca đối tượng. Chính vì thế, nhiều đi biểu quốc hội đã phê phán việc đưa ra c quy định có tính trìu tượng cao, ít tính đnh lượng, cthví dnhư hành vi cố ý m trái...“gây hu qunghiêm trọng”. Bi đó là loi quy đnh dm phát sinh những ý đvà hành vi "hình shoá" vli c quan hkinh tế, n sự ở c giai đon khác nhau ca quá trình ttụng hình s. Đây là vn đmà nhà lập pháp cần quan m trong lần sửa đổi BLHS 1999 sp ti.

 

Để khắc phc vấn đề cần thiết phải có mt hệ thng giải pháp toàn diện, tuy nhiên trên phương diện lập pháp hình sự cần sa đổi, bổ sung BLHS 1999 và BLTTHS 2003 sắp ti vi tinh thần sao cho nhng ai đang có thẩm quyn ca chủ thể áp dng pháp luật mun thực hiện những hành vi vụ li khó mà thc hiện đưc ý đ. Mặt khác nhà lp pháp ng cần thhiện rõ thái độ nghiêm khắc với nhng ngưi đã có “tiền sửvnhững căn bệnh vụ li, luật pháp cũng cn cảnh báo hvề nguy cơ chu những hình phạt nng hơn. Thực tế cũng đang đòi hi tăng cường nhng hình phạt bổ sung sao cho nhng đối tưng như thế không có chđng trong môi trường quản lý kinh tế, vật chất hay công tác cán b. Trong điều kin pháp luật đã đưc ban hành ngày càng đầy đ, các quan hệ xã hi ngày càng đưc tổ chc chặt chhơn thì càng cần gia tăng hình sự hoá, ti phạm hoá những hành vi, thói xấu tham lam, li dng hoàn cảnh, chức vquyền hn để trc li. Không nhất thiết phải quy định những hình phạt nặng, như kinh nghiệm ca nhiu nưc trên thế gii, nhưng cần xvề hình snhng loại hành vi cố tình xâm hại trật tự hoạt đng tư pháp đó đm sạch môi trưng xã hội và giữ nghiêm phép nưc.

 

Lâu nay, thông qua việc áp dng pháp lut, có mt snhng ngưi có chức vụ quyn hạn áp dụng pháp luật cố tình áp dng sai các quy phm pháp lut đbuộc đi tưng bị áp dng pháp luật phải lumình, hòng thu li bất chính. Rất tiếc là nhiều khi những hành vi tuỳ tiện hoặc vụ li đó lại đưc coi là nhng biểu hiện nhân đo. Nhng hiện tượng pháp lý đáng tiếc như thế diễn ra khá phổ biến trên c lĩnh vực khác nhau nhưng chúng ta hoặc là không nhận ra hoặc bàng quang và có cả những ngưi cố tình không tha nhận.

 

chế giám sát và kiểm soát quyền lc trong thc tế đang kém hiệu quả. Điều đó đã dẫn đến hin tượng áp dng sai pháp luật mà không bxlý, dần dần trở nên ph biến. Việc giải quyết khiếu nại, tố cáo ca công dân, tổ chức cũng ca đưc hoàn chnh, chưa thuận li cho công dân, các tổ chc, doanh nghiệp thông qua đó đ bo vệ quyn và li ích của mình. Các tranh chp, khiếu kiện, khiếu nại chậm được giải quyết dẫn đến tâm lý chán nản, không tin tưởng khnăng có thể bảo vệ li ích của mình bng giải pháp pháp luật. Nhu cầu hình shoá mt số hành vi cố tình trì hoãn không thc hiện nghĩa vụ trên lĩnh vc pháp lut về khiếu ni tố cáo cũng rất cần được đáp ứng nhằm không chỉ làm lành mnh hoá các quan hng xgia nhà nưc vi công dân mà còn nhằm làm trong sạch bmáy nhà nưc, tăng cường hiệu lc hiệu ququản lý nhà nưc. Vì tính cht quan trng ca các quan hệ pháp luật đưc điều chỉnh trong Luật khiếu nại tố cáo đi vi Nhà nưc, xã hội và công dân mà những hành vi nghiêm cm trong lĩnh vc này cần đưc hình sự hoá ti đa.

 

Xuất phát từ thực tiễn đấu tranh vi các loại tội phạm kinh tế, trên cơ s dự báo khoa học cũng như để phù hp với yêu cầu ca các điều ưc quc tế mà Việt Nam đã ký kết, phê chun, nhất là từ sau khi Việt Nam gia nhập WTO cần phải tiếp tc hình sự hoá, ti phm hoá hoặc phi hình sự hoá, phi ti phạm hoá mt số ti phạm kinh tế phù hp với xu hướng tiến bộ, hưng thiện ca pháp luật hình sự quc tế.

 

Tuy nhiên, vẫn cần nói đến mt gii hạn cần thiết ca việc phi hình sự hoá, phi ti phạm hoá hoặc hình sự hoá, ti phạm hoá các quan hệ hành chính, kinh tế, dân sự ở Việt Nam. Gii hn đó cn đưc quan niệm như mt hành lang chính trị - pháp lý cần thiết hưng dẫn hoạt đng sáng tạo pháp luật, quá trình hình sự hoá hay phi hình sự hoá cần thiết và có thể. Pháp luật hình s, xét vmặt triết hc, cũng là sphn ánh chủ quan đời sng hội khách quan và vì thế, nghĩa vụ ca nhà lập pháp là bảo đảm sphản ánh đó phù hợp ti đa vi điều kiện tn tại khách quan đó. Sửa đổi, bsung hthng pháp luật hình sự phải trong nhng gii hn cần thiết và có thể, phù hp với điều kiện hoàn cảnh cụ thể ca đtnưc, nhng nhiệm vđặt ra đối với nhà nưc và xã hi trong hoàn cảnh hiện tại cũng như trong những tương lai đưc dự báo đúng đn.

 

Gii hn đó chính là những nguyên tc chính trt chức đi sống xã hội và bn thân hthống chính trxã hội; những đnh hướng tchức và phát trin nn kinh tế đt nước đã đưc c đnh. Vì Hiến pháp và pháp lut Vit Nam đã thừa nhn rộng i mt trung m lãnh đo Nhà nước và xã hội, ht nhân ca hthống chính trxã hi là Đảng Cộng sản Vit Nam, vic thoát ly slãnh đo đó trong hot động và những đnh hướng tư tưởng cũng là vi hiến.

 

3. Chính sách hình sự đi với ti phm kinh tế trong BLHS 1999 và những vn đề đt ra

 

Chế đnh "Các ti phm về kinh tế" trong BLHS năm 1985, mặc dầu không phải đã có ni hàm phn ánh đầy đđúng như tên gi ca nó, nhưng căn cứ vào một sdấu hiệu pháp lý đc trưng, nhất là các dấu hiệu về khách thể đưc giải thích trong các tài liệu, văn bản khác nhau ở thi kđó, có thể thấy rằng, nó đòi hi mt tập hp rng ln hơn và lẽ ra nó phải đưc mở rng gii hn không chỉ trong nhóm xâm hại trt tự qun lý kinh tế.

 

Các cấu thành ti phm được quy đnh trong Chương VII Phn các ti phm ca BLHS 1985, phản ánh tương đối đặc trưng các dấu hiu ca các ti xâm phm trật tự quản lý kinh tế. Mặc dầu về lý thuyết, nói chung khách thloại ca nhóm ti này đưc giải thích là các quan hệ xã hội đảm bảo cho sn định và phát triển ca nền kinh tế quc dân, vi nghĩa rng là chế độ kinh tế đã đưc quy đnh trong Hiến pháp. Về chủ thể, trừ mt số ti phạm có hành vi khách quan vi phạm các quy đnh, chế độ, chính sách quản lý kinh tế, chủ thể là những ngưi có chc vụ, quyn hn trong các cơ s hoạt động kinh tế, trong các cơ quan Nhà nưc hoặc trong các tổ chc xã hội, nói chung chủ thể các ti phạm về kinh tế theo BLHS 1985 có thể là bất kỳ ai có năng lc trách nhiệm hình sự và đạt đtuổi luật đnh. Có thể nói, BLHS năm 1985 mặc dầu chưa có chế định "Các ti xâm phạm trật tự quản kinh tế", nhưng hu như trong chế định "Các ti phạm vkinh tế" lại chyếu mi chbao hàm các ti m phạm trật tự quản lý kinh tế.

 

Phn ánh khá rõ nét nền kinh tế vận hành theo cơ chế hành chính - mệnh lệnh, BLHS năm 1985, ngay tnhng năm đầu thời kđổi mi, đã bộc lộ rất nhiu bất cập khi nền kinh tế dần phát triển và chuyn biến theo cơ chế kinh tế thị trưng. Nhng bất cập này lại biểu hiện tập trung nhất ở chính ngay trong các quy đnh về ti phạm kinh tế.

 

BLHS năm 1999 ra đời nhằm thể chế hoá những quan điểm phát triển mi ca đất nưc và khắc phục nhng thiếu khuyết ca BLHS 1985. Nhiều quy định mới phù hp hơn với quy lut kinh tế thị trưng đã đưc nhà lp pháp đưa vào BLHS 1999. Nếu so sánh tlnhng đim mới gia các chương quy đnh về ti phạm cụ thể, cũng như tỷ lệ nhng sa đổi bổ sung trong các chế đnh ca BLHS 1999 thì chính những quan tâm sa đi cho nhóm ti phạm về kinh tế, cùng với nhóm ti xâm phạm an ninh quốc gia đã chiếm mt phần tri hơn hn.

Việc quy đnh mt chương riêng “Các ti xâm phạm trật tự quản lý kinh tế” không chỉ là kết qusa đi tên Chương VII “Các ti phạm về kinh tế” ca BLHS 1985 mà còn th hiện nhng nhn thức mi, bằng cách sửa đổi, bsung du hiu cấu thành ca mt số ti trưc đây quy đnh trong mt điều luật thành nhiều ti danh mi với mc hình phạt khác nhau, thể hiện tư tưởng phân hoá cao trách nhiệm hình sự các loại hành vi phạm ti. Các ti: buôn lậu, vận chuyn trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên gii; làm, tàng tr, vận chuyn, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác đưc chuyển từ chương “Các ti xâm phạm an ninh quc gia” sang chương “Các ti xâm phạm trật tự qun lý kinh tế” để phù hp với tính chất ca khách thể ca tội phm.

 

Thhiện chính sách hình s đổi mi, BLHS 1999 đã phi hình sự hoá, phi ti phạm hoá mt số hành vi phạm ti kinh tế mà căn nguyên ca chúng gn liền với cơ chế tập trung bao cấp hoặc đã từ lâu không xuất hiện trong đời sống thc tiễn. Nhiều loại hành vi n: Tội cản trở việc thực hiện các quy định ca Nhà nưc về cải tạo XHCN; Tội sản xuất hoặc buôn bán rượu, thuc lá trái phép; Tội lạm sát gia súc... đã đưc loại bỏ.

 

Tng kết bưc đu nhng kinh nghiệm thực tiễn đấu tranh vi ti phạm kinh tế trong điều kiện kinh tế thị trường, trong BLHS 1999 nhà lp pháp đã thực hiện ti phạm hoá thêm nhiu hành vi nguy hiểm cho xã hi đã và đang phát sinh trong điu kiện cơ chế kinh tế mi mà BLHS 1985 ca biết đến. Lần đầu tiên xuất hiện trong BLHS Việt Nam các ti danh: Tội qung cáo gian di (Điều 168); Ti vi phạm quy định về cấp văn bng bảo hộ quyn shữu công nghiệp (Điu 170); Ti xâm phạm quyn shữu công nghiệp (Điu 171); Ti sdng trái phép qudự trữ bổ sung vốn điều lệ của tổ chc tín dụng (Điều 178); Ti vi phm quy định về cho vay trong hoạt động ca các tổ chức tín dng (Điều 179).

 

Chế đnh các ti phạm về môi trưng là mt trong những điểm mi d nhn thấy mi chính sách hình sự ca thời kỳ này. Đây vn là mt nhóm hành vi phạm pháp có liên quan chặt chvi tổ chc sản xuất và sinh hoạt vật chất ca xã hi, thưng được coi là phm pháp trên nh vc kinh tế, nhưng đều có du hiệu liên quan đến môi trưng, đưc nhà lập pháp hình sự hoá, ti phạm hoá và tập hp riêng thành mt chế đnh mi, độc lập. Điều đó thhin rõ nét sđi mi tư duy trong chính sách hình s, tiếp thu những tư tưởng mi vbảo vmôi tng, đng thi tng bưc thực hiện những cam kết ca Việt Nam trong các công ưc liên quan đến bảo vệ môi trường. Mt số hành vi phạm ti trưc đây đưc quy định ở Chương “Các ti phạm về kinh tế” ca BLHS 1985 đưc chuyn sang Chương “Các ti phạm về môi trường” BLHS 1999. Đó là: các hành vi hủy hoi ngun li thy sản (Điều

188 ); hy hoại rng (Điều 189 BLHS 1985); vi phạm các quy đnh vbảo vđng vật hoang dã quý hiếm. Mt số ti danh trưc đây đưc coi là hành vi xâm phạm an ninh quc gia nhưng không có mc đích chng chính quyền nhân dân quy định tại mc B, Chương “Các ti xâm phạm an ninh quc gia” ca BLHS năm 1985 với hình phạt nng, đã đưc sa đổi và đưa vào chương này.

 

Để đáp ng yêu cầu cá thể hóa trách nhiệm hình sự và hình phạt, các ti danh trong BLHS 1985 có nhiều khon, đim phn ánh nhng hành vi có cấu thành ơng đi độc lập đã đưc tách ra quy định thành nhng ti danh cụ thể phù hp vi tính chất và mc độ nghiêm trng và dấu hiệu định ti đặc trưng ca chúng. Ví d, từ Điều 196 ca BLHS 1985, Tội buôn lu, vn chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên gii đưc xây dựng thành hai ti danh độc lập: Ti buôn lậu (Điều 153, BLHS 1999) và Ti vận chuyn trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên gii (Điều 154, BLHS 1999) vi chính sách, mc đxử lý phù hợp hơn. Tương t, Ti sản xuất, buôn bán hàng giả (BLHS 1985) đưc tách thành 3 ti danh khác nhau căn cứ vào đối tượng bị làm gi. Nhà lập pháp đã thc hiện phân hoá rõ hơn trong chính sách xử , theo tinh thần: nếu làm hàng ginhng thphc vssng ca con ngưi thì việc làm giphải bxlý nng hơn nhng hàng giả khác, bi chúng dễ gây ra hậu quđặc bit nghiêm trọng...

 

Quán triệt tư tưởng cá thể hóa trách nhiệm hình s, việc xây dựng các cấu thành ca các ti phm kinh tế trong BLHS 1999 đã cụ thhơn, chi tiết n. Tmt số tình tiết định khung trong các ti danh, đưc nhận diện sâu sắc hơn, khái quát hoá cao hơn đã hình thành các ti danh đc lập thể hiện sự phân hoá sâu sắc trách nhiệm hình sự và hình phạt.

 

Mt bưc tiến mi trong BLHS năm 1999 so với BLHS năm 1985 là khi quy định các ti xâm phạm trật tự qun lý kinh tế, nhà lập pháp đã đnh lưng giá trị hàng phạm pháp làm cơ sđphân biệt ranh gii xử lý hành chính và xử lý hình scũng như cá thể hóa hình phạt (có 08/29 điu luật quy đnh cụ thể giá trị hàng phạm pháp làm căn cứ đxử lý hình s). Đường li xử lý các ti xâm phạm trật tự qun lý kinh tế cũng có sđổi: tỷ lệ các điu luật có hình phạt chung thân, tử hình đưc rút xuống. Chỉ còn 03 điu luật quy đnh hình phạt ti tù chung thân hoặc tử hình (Điều 153; Điều 157 và Điều 180). Phạm vi áp dng phạt tiền đi với các ti phạm kinh tế bưc đầu đã được mở rng (có 18 điều luật quy đnh hình phạt tiền là hình phạt chính trong cấu thành cơ bn). Hình phạt bổ sung đưc quy định đối vi tất cả các ti phm, bao gm: phạt tiền (24/29 điều), tịch thu mt phần hoặc toàn bộ tài sản (07/29 điều), cấm đảm nhiệm chức vụ, làm những nghề hoặc công việc nhất đnh (22/29 điều).

 

Theo quy định ca BLHS năm 1999, các tội xâm phm trật tự quản lý kinh tế là những hành vi nguy hiểm cho xã hi xâm hại nền kinh tế quc dân, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho li ích ca Nhà nưc, ca các tổ chức, quyn và li ích hp pháp ca công dân thông qua hành vi vi phạm các quy định ca Nhà nưc vtrật tự quản lý kinh tế.

 

Như vậy, cùng vi vic đi tên Chương VII “Các ti phạm về kinh tế” thành Chương “Các ti xâm phạm trt tự qun lý kinh tế” cho ta thấy, càng ngày ni hàm Ti phạm kinh tế đưc đnh hình rõ hơn. BLHS 1999 cho ta thấy, nội m ca Tội phạm kinh tế không chỉ là các ti xâm phạm trật tự qun lý kinh tế mà còn rng ln hơn nhiều. “Các ti xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, vmặt khách thể, xâm phạm đến các quan hệ xã hội lp nên trật tự quản lý, nhằm bảo đảm tính đúng đắn, an toàn ca các quan hquản lý kinh tế. Trong khi đó, ti phạm kinh tế có mt nội hàm rng ln hơn nhiều, ngoài các ti xâm phạm TTQLKT, lại còn bao hàm cả các hành vi phạm ti mà xâm hại đến nn tảng kinh tế ca đất nưc (các ti xâm phạm s hữu), xâm phạm đến điều kiện môi trưng, môi sinh để tn tại và phát triển bền vững nền kinh tế - xã hi, các ti phạm xâm phạm đến hoạt đng bình thường, đúng đắn ca hệ thng các cơ quan, tổ chc và ngưi có chức v, vi đng cơ vụ li, và mt sti khác liên quan đến công nghệ, tài chính, tiền tệ…

 

m lại so với những quy đnh ca BLHS năm 1985, những quy định về ti phạm kinh tế trong BLHS năm 1999 đã có nhiều đi mi, nhìn chung đã đáp ứng yêu cầu ca cuộc đấu tranh phòng, chng các ti phạm này ở giai đon đu chuyển giao thế kỷ.

 

Tuy nhiên, BLHS 1999 đã nhanh chóng bộc lộ nhng thiếu khuyết, khi đất nưc hội nhp sâu vào quan hệ quc tế, nhất là khi nn kinh tế đã hầu như chuyn hn sang cơ chế thị trưng đnh hướng XHCN. Chính vì vy, nhu cầu đổi mi chính sách hình sđi với lĩnh vực đấu tranh phòng chng ti phạm kinh tế đang đặt ra bc xúc và có cơ sở thực tiễn cho nhng đổi mi, bổ sung các quy định liên quan đến các ti phạm kinh tế.

 

4. Những định hướng đi mới chính sách hình sự trên lĩnh vực đu tranh phòng, chng ti phm kinh tế và vn đề hình sự hoá, ti phm hoá và phi hình sự hoá, phi ti phm hoá mt số hành vi phm pháp trên lĩnh này

 

sở tư tưng chính trị đđổi mi ca chính trách hình sự nói chung, trong đó có lĩnh vc đu tranh phòng chng ti phạm kinh tế, trong giai đon hiện nay đến năm 2020 chính là nhng lun đim, chủ trương ln trong Nghị quyết số 08/NQ-TW và Nghị quyết s

49/NQ-TW ca Bộ chính trị.

 

Tờ trình ca Chính phgi Quc hội Khóa XII, ngày  tháng năm 2008, nêu rõ 5 lý do đi mi BLHS 1999. Cùng vi việc khng đnh vai trò to lớn ca BLHS 1999 trong việc góp phn quan trọng vào sự nghiệp givững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hi, bo vệ quyn và li ích hợp pháp ca công dân, đấu tranh phòng, chống ti phm, góp phn tích cc vào việc thực hiện thng li những nhiệm vụ chiến lưc ca cách mạng Việt Nam thời gian qua, Chính phủ cũng đã chỉ ra mt sbất cập hạn chế ca Bộ luật này, cần được sa đổi, bổ sung. Vì B Luật hình sự 1999 đã ra đời trưc khi có chủ trương đổi mi, cải cách tư pháp (đưc đề ra trong Nghị quyết 08/NQ-TW tháng 01/2002 và Nghị quyết 49/ NQ-TW tháng 6 năm 2005 của Bộ chính trị), nên mt số quan điểm mi về chính sách hình sca Đảng ca đưc thchế hoá trong Bluật này. Đặc bit, chủ trương tăng cưng hơn na tính nhân đạo, hướng thiện ca BLuật hình s, đng thời tiếp tc hình sự hoá, ti phm hoá những hành vi nguy hiểm cho xã hi mi xuất hin trong quá trình đổi mi, phát triển kinh tế - xã hội và hi nhp quc tế ca được phn ánh đầy đủ trong Bộ luật.

 

TNghquyết 49/NQ-TW ca Bộ chính trị cho ta thy rõ mt trong sự cần thiết phải đổi mi là nhằm Hn chế áp dụng hình phạt tử hình theo hưng chỉ áp dụng đi vi mt số ít loại ti phạm đặc biệt nghiêm trng”.

 

Thc tiễn áp dng pháp luật hình sự đ đấu tranh vi ti phạm kinh tế cũng đã cho thấy s bất cập trong quy định về cấu thành ca mt số ti phạm về môi trưng, ti phm liên quan đến công nghệ cao vì ca phn ánh đúng tình hình và phương thc, thủ đoạn hoạt đng phạm ti, gây khó kn cho công tác phòng nga, phát hiện, xử lý; sự lạc hậu ca các quy định vđịnh lượng làm cơ sở truy cứu trách nhim hình sđối với một số ti chiếm đoạt tài sản, ti xâm phạm trật tự qun lý kinh tế và mt số ti phạm khác có liên quan đến tài sản, cũng như mc phạt tiền quy định trong các hình phạt tiền đi với các tội xâm phm quyn tác giả, ti xâm phạm quyền shu trí tuệ đã không còn phù hp vi giá cả. Nhiều hành vi ti phạm trong các lĩnh vc công nghệ thông tin, chng khoán, tài chính - kế toán, shu trí tuệ... ca đưc ti phạm hóa. Nghquyết 49/NQ-TW chrõ: Quy định là ti phạm đi vi những hành vi nguy hiểm cho xã hi mi xuất hiện trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, khoa hc, công nghệ và hi nhập quc tế”.

 

sở thc tiễn ca việc đổi mi chính sách hình s phc vụ cuc đu tranh vi ti phạm nói chung, ti phạm kinh tế nói riêng là nhng kết luận được rút ra từ trên cơ stng kết thực tin 8 năm thi hành BLuật hình sự 1999 và cả nhng đạo luật hình sự trưc đây. Đng thời với stham khảo có chn lc kinh nghiệm lập pháp hình sự ca c nưc trong khu vc và trên thế gii.

 

Cũng như đi vi nhiều lĩnh vc khác, việc đổi mi chính sách hình sự thể hiện trong Bộ luật hình sự phải bảo đảm tính đng b với các nh vc khác, các đạo lut khác trong hệ thng pháp luật. Những đi mi trong chế đnh ti phm kinh tế phải bo đm nhất quán vi các chế định khác ca Bộ Luật hình scũng như những quy định khác có liên quan trong các ngành luật, đo lut hiện hành. Đặc biệt vấn đ bo đảm snhất quán với các chính sách kinh tế đưc ghi nhận trong các văn kiện ca Đảng và trong các đạo luật, Nghị quyết ca Quc hi đã ban hành.

 

Đi mi chính sách hình sự trên lĩnh vực đấu tranh vi ti phm kinh tế phải góp phn thc hiện các nghĩa vquốc tế mà Nhà nưc ta đã ký kết, phê chun, đng thời, tạo cơ sở pháp lý để tăng cưng hợp tác quc tế trong đu tranh phòng, chng ti phạm, nhất là các ti phạm kinh tế xuyên quc gia, ti phạm có tổ chc, ti phạm ra tiền, ti phạm công nghệ cao...

 

Rõ ràng đbảo đảm nhất quán gia chính sách hình s với đưng li phát triển đất nưc trong thời kmi, việc sa đi, bổ sung mt sđiều ca BLuật hình sự là mt đòi hỏi khách quan và cấp thiết nhm giúp phn khắc phc mt bưc những bất cập, hạn chế nói trên, đáp ứng yêu cầu bc xúc ca thực tiễn đang đặt ra và bảo đảm hiệu quca cuc đấu tranh phòng, chng ti phm, đng thời, đáp ng yêu cầu hi nhập quc tế.

 

Nhng nội dung đưc định hướng đsa đi các nhóm ti xâm phạm TTQLKT, ti phạm vmôi trường, ti phạm công nghệ cao là phù hp vi nhu cầu phát triển hin nay ca sự phát triển kinh tế thị trưng thi khi nhập quc tế.

 

- Đi với c ti xâm phạm TTQLKT, việc điều chnh chính sách hình sự chyếu liên quan đến nhng hành vi phạm ti kinh tế liên quan đến việc thực hiện các cam kết ca Việt Nam đng thi chđng hội nhp kinh tế quc tế trên lĩnh vc kinh tế thương mại và tài chính - tiền tệ.

 

Vic sa đổi, bsung quy đnh Tội đu cơ ( Điều 160) theo hướng mrộng, tạo ra khnăng xlý vhình sđối vi những hành vi mang tính đu cơ xy ra trong thời gian vừa qua, p phần n đnh thtrường, giá c. Điu 160 BLut hình shiện hành ca phn ánh hết những hành vi nguy him cho xã hội xut hiện trong cơ chế kinh tế thtrường. Bng cách đó chúng ta đã bra ngoài phm vi xlý hình snhững hành vi nguy hiểm cao cho xã hi trong trường hợp thực hiện hành vi đu cơ "trong tình hình có khó khăn vkinh tế".

 

Bổ sung vào ti trn thuế (Điu 161) hành vi gian lận thuế, đồng thời, nâng các mc định lượng số tiền trn thuế, lậu thuế để truy cu trách nhiệm hình snhằm góp phn bảo đảm thi hành nghiêm chỉnh các luật về thuế và Luật về quản lý thuế.

 

Bằng ssửa đổi này, nhà lập pháp đã phi ti phạm hoá nhng hành vi trn thuế hành vi gian lận thuế có mc đnh lưng dưi đến dưi mt trăm năm mươi triệu đng" quy định tại khoản 1 Điều 161 BLHS 1999; đồng thi phi hình sự hoá mt bưc những hành vi trn thuế, gian lận thuế "từ mt trăm năm mươi triệu đng” đưc quy đnh ti các khoản 2, khon 3 Điều 161 BLHS 1999.

 

Vi sthiết kế lại cấu thành ca ti xâm phạm quyền tác giả (Điều 131) và ti xâm phạm quyn shữu công nghiệp (Điều 171) theo hướng quy đnh rõ ràng, cụ thể các hành vi vi phạm trong lĩnh vc quyền shu trí tuệ, nhà lập pháp đã hình sự hoá nhiều hành vi đưc Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 - mt đo luật chuyên ngành dự liệu. Điều này cũng thhiện tinh thần thực hiện nghiêm túc các điều ưc quc tế mà Việt Nam là thành viên.

 

Hình sự hoá và tội phạm hoá mt số hành vi trong lĩnh vực tài chính - kế toán và trong lĩnh vực chứng khoán nhm góp phn đu tranh có hiệu quvới các hành vi cho xã hội mi xuất hiện trong các lĩnh vực này. Đó là những hành vi in, phát hành, mua bán, sử dng trái phép hoá đơn, chứng từ thu np ngân sách Nhà nưc; hành vi vi phm quy đnh vbảo qun, qun lý hoá đơn, chứng từ thu np ngân sách Nhà c; hành vi cố ý công bố thông tin sai lệch hoc che giấu sự thật khi chào bán, niêm yết hoặc giao np chứng khoán; hành vi sdng thông tin ni bđmua bán chứng khoán; hành vi gian lận và la đo trong giao dch chứng khoán; hành vi thao túng giá chng khoán.

 

Đi với các ti phạm về môi trưng.

 

Việc sđi Bộ Luật hình snhằm khắc phục nhng bất cập trong cấu thành ca các ti phạm vmôi tng, bo đm phán ánh đúng đn n bn chất pháp lý ca các hành vi thuc nhóm này. Theo quy đnh tại BLHS 1999, cấu thành ca nhóm ti gây “nhiễm môi trường đòi hỏi phi có đồng thời 3 yếu tmới xlý hình sđược: Hành vi thi cht y ô nhiễm môi trường trước đó bxpht hành chính; người bxpht hành chính ctình không thực hiện c bin pháp khc phc; do không thực hiện biện pháp khc phục mà y ra hu qunghiêm trọng. Quy đnh cấu thành vt cht trong c ti phm này đã hn chế khnăng truy cu trách nhim hình sđối với nhiều hành vi nguy hiểm cao đđối với xã hội. Sbt hợp lý thhiện ở chc hành vi có đnguy him cao, khó khc phục hu quthì ngay khi hành vi chưa hoàn thành đã nguy him đối với xã hội, và đe donguy hiểm cao đđối với hội, lra phải quy đnh cấu thành hình thức, nhm tăng cường khnăng phòng ngừa nn chn, đồng thời có thxlý ngay ckhi ti phm ca dn đến hu quthiệt hại cho xã hội.

Việc quy đnh đcả 3 yếu ti trên đã m lt lưới nhiu hành vi nguy hiểm xã hội, và làm dn đến những hu qulà rt khó khăn, nht là trong vic c đnh hu quv môi trường.

 

Nhng hành vi huhoại môi trưng môi sinh, xả chất thải công nghiệp ra môi trưng tự nhiên có thể dn đến thảm hođối với con ngưi. Vì thế việc ti phạm hoá, hình sự hoá các hành vi mua bán, tái chế rác thải y tế hoặc rác thải công nghiệp ca qua xử lý đsản xuất vật dụng tiêu dùng... là nhất quán với chính sách hình shiện đại, bảo vệ con người, tương lai ca loài ngưi.

 

Chính sách hình sđi vi các ti phạm môi tng ở Việt Nam hiện nay được Chính phđịnh hướng nhằm giải quyết mt svn đề trung tâm:

 

+ Hình sự hoá, ti phạm hoá một số hành vi xâm phm môi trường bng việc thải vào không khí, ngun nưc, chôn vùi vào đất các chất gây “nhiễm môi tng” không tuân thủ các quy chun kỹ thuật quc gia; hp nhất các hành vi gây ô nhiễm không khí, ngun nưc, đất vào mt ti danh.

 

+ Hình sự hoá, ti phạm hoá nhng hành vi li dng việc nhập khẩu công nghệ, máy móc, thiết bị, hay thđoạn khác đđưa y móc thiết bị lạc hậu, phế liệu hoặc hoá chất, chế phẩm sinh hcc chất thải khác vào lãnh thổ Việt Nam;

 

+ Hình sự hoá c hành vi vi phm quy đnh vbo vđng vt hoang dã quý hiếm; các hành vi vi phạm chế đbo vđặc biệt đối với khu bảo tn thiên nhiên cho phù hp với thực tiễn và quy đnh mi ca Luật Bảo vệ môi trưng.

 

+ Tội phm hoá những hành vi vi phạm quy đnh vquản lý chất thải nguy hi; vi phạm quy định về phòng nga sự cố môi trường ... có khả năng gây hu quả rất lớn cho sc khe, tính mạng con ngưi.

 

+ Điều chnh hệ thng hình phạt đối với nhóm ti này theo hướng nâng mc phạt tiền đối với các ti phạm về môi trưng.

 

Đi với các ti phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin:

 

Để khắc phc tình trạng hiện nay có nhiều hành vi liên quan đến công nghệ thông tin rất nguy hiểm cho xã hi, đáng xử lý về hình snhưng ca đưc quy định là ti phạm. Vì thế, việc ti phạm hoá nhng hành vi truy cập trái phép, đón chặn thông tin trái phép, sdng trái phép thiết bị và các hành vi khác xâm hại đến các thiết bị, số liệu và dịch vụ thông tin, truyền thông, sdng công nghệ thông tin để chiếm đoạt tài sản, la đo qua mạng... là đáp ng nhu cầu bc xúc ca thc tiễn và phù hp vi xu thế chung trên thế gii.

 

- Về nhng hành vi liên quan đến ra tiền:

 

Trong B Luật hình s năm 1999 có hai điu luật quy định về hai ti phạm liên quan trc tiếp đến ra tiền. Đó là ti chứa chp, tiêu thụ tài sản do ngưi khác phạm ti mà có (Điều 250) và ti hợp pháp hoá tiền, tài sản do phạm ti mà có (Điều 251). Tuy nhiên chvới hai ti phạm đó, thì nhiều hành vi ra tiền xảy ra trên thc tế ca đưc quy định là ti phm. Chính vì thế việc ti phm hoá các hành vi rửa tiền như: sdng tiền, tài sản do phạm ti mà có vào các casino, làm quà tặng, làm từ thiện, tài trợ cho các hoạt đng văn hoá, thể thao, du lịch; dch chuyn tài sản biết rõ là do phạm ti mà có ti này sang nơi khác nhằm mc đích che giấu hoặc nguỵ trang ngun gốc bất hp pháp ca tài sn; che giấu, nguỵ trang nguồn gốc bất hp pháp ca tài sản ... là phù hp với xu hướng chung trên thế gii, to cơ sở pháp lý đ đu tranh có hiệu quđi với ti phạm ra tiền, đng thi góp phn tạo thuận li cho việc hp tác quc tế trong đu tranh phòng, chng tham nhũng. Điều này cũng nhằm thực hiện nhng cam kết quc tế ca Việt Nam trong Công ưc chng ti phạm có tổ chức xuyên quc gia (TOC) và các khuyến nghca Lc lượng đặc nhiệm tài chính về chng ra tiền (FATF).

 

- Tội phạm hoá hành vi thành lập hoặc tham gia vào nhóm ti phạm có tổ chức là mt nội dung mi trong chính sách hình sự nói chung, đi với ti phạm kinh tế nói riêng.

 

5. Mt svn đề cn tiếp tục quan tâm

 

Trong quá trình phát triển kinh tế thị trường, đặc biệt quá trình hi nhp kinh tế quốc tế, bất cứ lĩnh vc hoạt đng kinh tế nào cũng xuất hiện những biến đi xã hi làm giảm, làm mất tính nguy hiểm xã hi ca nhng hành vi nào đó, đồng thời lại làm gia tăng tính nguy hiểm xã hi hay nhu cầu ti phạm hoá những hành vi khác. Vì thế, cần tiếp tc rà soát tất cả mi lĩnh vực hoạt động kinh tế để xác định những hành vi cần hình sự hoá, ti phạm hoá cũng như phi hình sự hoá, phi ti phạm hoá.

 

Đi mi chính sách hình sđi vi ti phạm kinh tế là mt phương hưng rt quan trng đđáp ứng tt hơn chiến lưc phát triển kinh tế - xã hi và bảo đảm giữ vng n đnh chính trị, giữ vng quc phòng an ninh đất c.

 

Thc tiễn cho thy vn còn khá nhiều những hành vi thưng xuất hiện trong các hoạt đng kinh tế - xã hội, đằng sau những vbọc hợp lý, hp pháp cha đng nhng du hiu và bn chất rất nguy hiểm xã hi cần đưc tiếp tc quan tâm xử lý để ti phạm hoá, hình sự hoá để có đủ cơ sở pháp lý đu tranh loại trừ chúng.

 

Xin nêu mt svấn đề ln cần đưc tiếp tc nghiên cu x

 

- Thnhất, vấn đề trách nhiệm hình spháp nhân. Mc dầu vn đnày đã đưc đặt ra khá lâu cả trên phương diện lý luận cũng như thực tin nhưng chưa đưc xử lý. Thực tiễn nhiu nưc, kể cả nhng nưc trưc đây từng có hthng pháp lut hình skiểu xã hi chủ nghĩa, áp dụng trách nhiệm hình sđối với các pháp nhân, nhất là trên lĩnh vực ti phm kinh tế, có tác dụng to ln trong việc đấu tranh vi ti phm, đặc biệt là các loại hành vi tham nng. Việc áp dng trách nhiệm hình sự pháp nhân không gây biến đi ln vmặt nguyên tắc đi vi các ngành luật khác, kể cả các chế định ca pháp luật tố tng hình s. Thiết nghĩ cần đưc xem xét trong lần sa đi BLHS 1999 và BL TTHS 2003 này.

 

- Thứ hai, vấn đề áp dụng phương pháp viện dẫn các hành vi đưc quy đnh trong các đạo luật, các văn bản pháp quy thuc lĩnh lc kinh tế chuyên ngành. Xu hướng này nhm tạo ra snăng đng trong hoạt đng lp pháp, không buc phải tạo ra nhng bluật đsmà vẫn có khả năng hình sự hoá, ti phạm hoá, phi hình sự hoá, phi ti phm hoá những hành vi, quan hệ cụ thể trong lĩnh vực kinh tế.

 

- Thứ ba, thực tế cho thấy trong hoạt đng kinh tế có không ít hành vi tại thi điểm xem xét có thể là tiêu cc, cho là “cố ý làm trái” nhưng xét về lâu dài lại có ý nghĩa tích cc. Nhng loại hành vi này cần đưc phi hình sự hoá và nhất thiết không áp dng nhng hình phạt tử hình, chung thân, hạn chế ti đa tù có thời hạn, mt mặt th hin tính chất nhân đạo, hưng thiện ca pháp luật hình sự Việt Nam, mặt khác loại trừ khnăng oan, sai, nhất là trong điều kiện chúng ta chưa có đủ kiến thức, phương tiện, công nghđkiểm chứng.

 

Chính sách hình sca chúng ta trên lĩnh vc đu tranh vi ti phạm kinh tế cần có định hưng phi hình sự hoá những hành vi mặc dầu có đủ các dấu hiu hành vi phạm ti hình s, nhưng lại có tác dng làm gia tăng snăng động ca cơ chế, khai thác mạnh các khnăng nguồn lc ca mi chủ th phc vụ cho phát triển, giải phóng năng lc tiềm tàng trong đi ngũ nhân lực ca các cơ quan, doanh nghiệp. Theo hướng này cần xem xét phi hình shoá loại hành vi “cố ý làm trái” trong B Luật hình s hiện hành. Bởi vì trong cách quy định cấu thành tội phạm này các dấu hiệu “ cố ý làm trái” và “hậu quả nghiêm trng” đều mang tính ưc lưng rất cao, ít tính cụ thể. Nếu cần thiết, phải định hình rõ nhng hành vi nào, hoàn cnh cụ thể, trách nhiệm pháp lý trc tiếp, cụ thể trong những hoàn cnh đó để xác định trách nhiệm hình s. Xử lý điểm này đkhắc phc tình trng thực tế nhiu khi các cơ quan tiến hành ttng không chứng minh đưc hành vi ca bị can, bị cáo, không xác định đưc mi liên hệ nhân qutrc tiếp giữa hành vi và hậu quả nguy hiểm xã hi mà vẫn có thxử lý hình s, dẫn đến khnăng oan sai gia tăng; báo chí, dư luận xã hi bức xúc.

 

- Thứ tư, quan điểm sa đi bổ sung BLHS 1999 bi Quốc hội khoá XII là chỉ chn nhng vấn đbc xúc nhất, bất cập nhất. Tuy nhiên điều đó không loại trừ nhu cầu xử lý đầy đnhng yếu ttiềm tàng hành vi nguy hiểm xã hi trong các hoạt động, các cơ chế qun lý trên các lĩnh vực. Và vì thế, theo tôi có những hưng chính có thể và cần thiết nghiên cu xử lý và để xác đnh những hành vi nguy hiểm cho xã hi, m cơ sở cho việc tiếp tc ti phạm hoá, hình sự hoá hoặc phi hình sự hoá, phi ti phm hoá. Đó là:

 

+ Những hành vi li dụng cơ chế phân bvà qun lý ngân sách Nhà nước gii ngân, theo cơ chế “xin cho”, tn ti trên mi lĩnh vực hot động kinh tế có liên quan đến ngân sách;

 

+ Nhng vấn đề tiềm ẩn đng sau cơ chế quản lý và đại diện chshu Nhà nước trong các tp đoàn kinh tế có vn nhà nưc;

 

+ Trách nhiệm pháp lý hình sự ca nhng chủ thđứng đằng sau nhng thất thoát, mất mát ln ngun vốn Nhà nước ca cơ quan, tchức (từ ngun ngân sách, tín dụng nhà nưc, vn vay ODA, trái phiếu chính ph...) mà họ trc tiếp qun lý, quyết định lâu nay mọi thất thoát này đu do Chính phhứng chu;

 

+ Hình sự hoá, ti phạm hoá các hành vi can thiệp hình thành chính sách đvli;

điều chỉnh quy hoạch, kế hoch m li cho bản thân hoc ngưi khác đvụ li; các hành vi liên quan đến điều chỉnh chế đchính sách, phân bdự án, quyết đnh đu tư, hình thành và điều chỉnh quy hoạch đầu tư xây dựng cơ bn; phân bổ ngun vốn; những hành vi khác can thiệp vụ li vào các công đoạn ca quá trình đầu tư xây dựng cơ bn;

 

- Thnăm, khẳng đnh xu hưng cải cách mnh mhệ thng hình phạt theo xu hưng tăng cưng tính nhân đo, hưng thin và sdụng đòn bẩy li ích kinh tế, vật chất. Xoá bỏ các hình phạt thình đi với các ti phạm kinh tế; hạn chế áp dụng hình phạt tù và thay thế bng các hình phạt tiền, hình phạt lao đng công ích; tăng cường biện pháp tư pháp buc phải phục hồi, bi hoàn các giá trị vật chất.

 

GS.TS. Hồ Trọng Ngũ - UVTT Uỷ ban Quốc phòng An ninh của Quốc hội

 

1 Hiện nay xung quanh vn đ hình sự hoá và ti phạm hoá cũng như phi hình sự hoá, phi ti phạm hoá, hãy n nhng quan niệm khác nhau. Có ý kiến cho rằng, nh sự hoá và ti phạm hoá là mt quá trình thng nhất, hay ti phạm hoá cũng chính là hình sự hoá. Tương tự như vy, quá trình phi hình sự hoá và phi ti phm hoá là mt. Lại có ý kiến cho rằng các quá trình ti pham hoá và hình sự hoá là khác biệt nhau, cũng như vậy, phi ti phạm hoá và phi hình sự hoá là khác nhau. Tuy nhiên, cả hai quan điểm nói trên đu còn nhng điểm đáng bàn. Có thể thấy rằng, phi ti phạm hoá là mt trưng hp đặc biệt ca phi hình sự hoá, là kết quca cuối ng quá trình phi hình sự hoá kng ngng mt loại nh vi nào đó. Nói cách khác quá trình giảm hình phạt đến ti đa sẽ dẫn đến loại hành vi ra khi phm vi áp dụng hình phạt và do đó, theo đnh nghĩa ti phạm đã được tha nhn u nay, hành vi không n là ti phạm na. Khi kng còn hình phạt thì cũng có nghĩa là phi ti phạm hoá. Quá trình hình sự hoá và ti phạm hoá diễn ra ngược lại, ti phạm hoá là hệ quả ca hình sự hoá, nhưng lại không phải là điểm cuối cùng, mà chỉ có ý nghĩa như mtớc chuyển đổi vchất. Quá trình hình sự hoá tiếp diễn khi hình sự hoá đã diễn ra (xem Hồ Trọng Ngũ, nh shoá, ti phm hoá và phi hình sự hoá, phi ti phạm hoá - Tp chí CAND, 6/ 2003).

 

Các tin tiếp
Các tin trước
TIÊU ĐIỂM
Xem nhiều nhất