Hoạt động lập pháp và kinh nghiệm của một số quốc gia về bảo hộ quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số
19:51' 21/7/2009
Cuộc cách mạng kỹ thuật số đã dẫn tới sự cần thiết phải chỉnh sửa thích hợp để bảo hộ các tác phẩm văn học nghệ thuật, các buổi biểu diễn và nhà sản xuất bản ghi âm nhằm mục đích tiếp tục qui định sự bảo hộ thích hợp và hiệu quả.

Vì rõ ràng là không thể đi tới một sự đồng thuận cần thiết để sửa đổi Công ước Berne, hai Hiệp ước mới đã được ký kết ở cấp độ quốc tế: Hiệp ước về quyền tác giả của WIPO (WCT) và Hiệp ước về biểu diễn và ghi âm của WIPO (WPPT).
  WCT và WPPT bao gồm các quyền xuất phát từ Công ước Berne, Hiệp định TRIPS và Công ước Rome. Nhưng chúng cũng bao hàm các quyền mới: quyền phân phối, quyền truyền đạt công cộng tác phẩm, quyền tinh thần của người biểu diễn, quyền cung cấp sẵn tới công chúng biểu diễn đã được ghi và bản ghi âm
  Ngoài ra các Hiệp ước này còn bao hàm các quy định về các biện pháp công nghệ và quyền quản lý thông tin. Đọc kỹ sẽ thấy là Hiệp ước này đòi hỏi “sự bảo hộ pháp lý thích hợp và các biện pháp thực thi hiệu quả” đối với các biện pháp công nghệ nhưng chỉ “các biện pháp thực thi thích hợp và hiệu quả” đối với quyền quản lý thông tin. Điều này cho chúng ta thấy sự khác biệt như thế nào. Có phải điều này đòi hỏi “quyền độc quyền đối với các biện pháp công nghệ?” Có thể không. Mihály Fiscor, Nguyên trợ lý tổng giám đốc của WIPO, trong tác phẩm của mình “Luật quyền tác giả và Internet” đã nêu quan điểm là điều này dường như là kết quả của sơ xuất nhỏ trong soạn thảo. Bản thân các Hiệp ước này không có câu trả lời. Chúng không đề cập đến cách thức mà các nghĩa vụ này phải được thực thi như thế nào.
  Ở cấp độ quốc tế, chúng ta thấy có hai cách tiếp cận chính của việc thực thi bảo hộ các biện pháp công nghệ: cách tiếp cận của Mỹ và của Cộng đồng Châu Âu. Khác nhau cơ bản trong cách mà hai tiếp cận này là giải quyết vấn đề sử dụng hợp lý thuộc các ngoại lệ về quyền tác giả.
  Cách tiếp cận của Mỹ phân biệt giữa “kiểm soát truy cập”, “kiểm soát sao chép” với “thao tác dự phòng”. “thao tác dự phòng” có nghĩa là sự cung ứng các dịch vụ và phương tiện sử dụng các thủ thuật công nghệ.
  Mặc dù các Hiệp ước về Internet này của WIPO không rõ ràng ngăn cấm thao tác dự phòng, nhưng người ta có thể tự vấn là liệu rằng cụm từ bảo hộ “hiệu quả và thích hợp” rõ ràng không nhất thiết đòi hỏi ngăn cấm thao tác dự phòng. Trong Luật bản quyền kỹ thuật số của Mỹ (DMCA) cấm dỡ bỏ các thủ thuật công nghệ trong các biện pháp kiểm soát truy cập và thao tác dự phòng nhưng không cấm dỡ bỏ các thủ thuật công nghệ trong các biện pháp kiểm soát sao chép. Với cách giải quyết này, Mỹ tránh xung đột giữa các ngoại lệ sử dụng hợp lý với các biện pháp công nghệ. Lý do cơ bản ẩn sau cách giải quyết này là các ngoại lệ sử dụng hợp lý không bảo đảm cho sự tiếp cận tới các tác phẩm cụ thể. Do vậy, không cần thiết phải xử lý xung đột giữa kiểm soát truy cập và ngoại lệ sử dụng. hợp lý. Mặt khác, các biện pháp kiểm soát sao chép có thể xung đột với các ngoại lệ sử dụng hợp lý như là sao chép để dùng riêng. Có sự xung đột giữa hai cơ chế này. Mỹ giải quyết xung đột này bằng việc duy trì cơ chế ngoại lệ sử dụng hợp lý nhưng lại ngăn cấm các thao tác dự phòng. Các tiếp cận này là hợp lý vì ngăn cấm dỡ bỏ các biện pháp kiểm soát sao chép trong sao chép để dùng riêng – bất kể nó có thuộc phạm vi các ngoại lệ sử dụng hợp lý hay không – là không thể kiểm soát được. Tuy nhiên, hầu như mọi người đều không đủ trình độ công nghệ để dỡ bỏ các biện pháp kiểm soát sao chép nếu không có các thiết bị chuyên dùng và sự trợ giúp từ bên ngoài. Kết quả là việc ngăn cấm các thao tác dự phòng là phương thức hiệu quả chống lại việc dỡ bỏ các biện pháp kiểm soát sao chép và một khi có thể kiểm soát được thì, mọi giao dịch giữa người sử dụng và nhà cung cấp sẽ phải diễn ra tại thị trường (internet, thư đặt hàng, bán hàng thông qua các cửa hàng).
  Ngược lại với Mỹ, Cộng đồng Châu Âu quyết định quy định sự bảo hộ đối với tất cả các hình thức sử dụng các thủ thuật công nghệ kể các các thao tác dự phòng. Tuy  nhiên, các quốc gia thành viên có thể bảo lưu trong các trường hợp ngoại lệ sử dụng hợp lý cụ thể không còn được bảo đảm nữa.
  Gần đây, Viện Sở hữu trí tuệ Liên bang Thụy Sĩ đã soạn thảo đề nghị sửa đổi Luật quyền tác giả nhằm mục đích thực thi các Hiệp ước về Internet. Kể từ khi đó vấn đề về quyền tác giả này luôn nổ ra tranh luận sôi nổi. Đầu tiên Viện này soạn thảo bản dự thảo thứ nhất và trình dự thảo này để tham vấn các bên có liên quan. Chúng tôi nhận được hồi âm của gần 180 đơn vị. Nhìn chung, các ý kiến đều thừa nhận nhu cầu phê chuẩn các Hiệp ước về Internet của WIPO và sửa đổi Luật quyền tác giả. Bản thân các quyền mới không gây tranh cãi lớn đến như thế kể từ khi một số người cố gắng sát nhập chúng trong luật hiện hành. Cũng không có gì phải tranh cãi đối với các quyền về biển diễn, sẽ không bị giới hạn trong các biểu diễn âm thanh nhưng gồm cả các biển diễn nghe nhìn, và đối với nhà sản xuất bản nghe nhìn cũng sẽ hưởng lợi từ các quyền tương tự như đối với nhà sản xuất bản ghi âm sẽ được hưởng và sự bảo hộ các tổ chức phát sóng cũng sẽ được sửa đổi thích hợp tương ứng.
  Tuy nhiên, các ý kiến có sự khác biệt lớn về cách thức thực thi các nghĩa vụ quy định tại các Hiệp ước về Internet của WIPO. Bên nhà sản xuất bản ghi âm lập luận là các biện pháp công nghệ đã làm cho các quyền quản lý kỹ thuật số trở nên có thể, khi đó các giấy phép có thể đáp ứng đúng các nhu cầu cụ thể của từng cá nhân và như vậy là công bằng hơn. Nhưng đồng thời các tổ chức quản lý tập thể quyền tác giả khi đó sẽ trở nên không còn hữu dụng nữa. Đương nhiên, để khẳng định quan điểm bảo đảm môi trường công bằng và hiệu quả hơn, sự bảo hộ các biện pháp công nghệ phải được đưa vào sửa đổi thích hợp. Không thể có bất kỳ ngoại lệ sử dụng hợp lý hiện này nào và sự bảo hộ phải được tách biệt tới từng bản quyền cụ thể. Nếu sự bảo hộ các biện pháp công nghệ bị giới hạn về thời gian như quyền tác giả, người sử dụng sẽ dỡ bỏ công nghệ bảo hộ sao chép của tác phẩm khi mà thời hạn bảo hộ kết thúc và sử dụng kiến thức này để dỡ bỏ các công nghệ tương tự khi chúng được áp dụng đối với tác phẩm vẫn còn trong thời hạn bảo hộ.
  Phía bên người sử dụng lại đòi hỏi phải có quyền sử dụng hợp lý có thể thực hiện trên thực tế. Vì thế, những người sử dụng này cho rằng các quyền này phải có sẵn. Vì các thủ tục giải quyết tại tòa án để thực thi đối với các quyền này là quá lâu và chi phí cao cho nên họ cho lập luận là những người sử dụng các biện pháp bảo hộ công nghệ phải cung cấp cho từng người sử dụng công cụ dỡ bỏ các biện pháp này nhằm mục đích thực hiện các quyền ngoại lệ sử dụng hợp lý của người đó. Các công cụ này được trao theo cách thức không bị khống chế. Giới hạn có thể chấp nhận được là không quá “ba lần kích chuột”. Tất cả các ý kiến khác rơi vào giữa hai thái cực này, tùy thuộc vào vị trí của tổ chức.
  Cuối cùng nhưng cũng không ít là các bình luận của các nhóm có lợi ích liên quan đặc biệt, với các gợi ý xung quanh ranh giới “cấu thành hạn chế sử dụng hợp lý đặc thù đối với các loại hình tác phẩm mà thư viện áp dụng”. Đại diện từ các tổ chức giáo dục tranh luận là thuật ngữ “tự do thông tin” đã biện minh cho ngoại lệ sử dụng hợp lý phục vụ cho mục đích giáo dục, kể cả khả năng không bị ngăn trở đối với việc dỡ bỏ các biện pháp bảo hộ công nghệ và quyền tự do sao chép.
  Hãy xem xét kỹ hơn các lập luận trên bởi vì trong các lập luận đó rõ ràng là sự thật các vấn đề đã bị che dấu.
  Trong khi các lập luận độc lập của nhà sản xuất bản ghi âm, tiếp tục bảo hộ các biện pháp công nghệ có một số chỗ xứng đáng, thì nó cũng gây ra hoài nghi là liệu rằng lập luận này thực sự không nhằm vào việc mở rộng sự bảo hộ tác phẩm vượt ra ngoài thời hạn bảo hộ quyền tác giả. Nếu thời hạn bảo hộ (tại Thụy Sĩ) là 70 năm sau khi tác giả chết, nhưng đồng thời là nếu các biện pháp bảo hộ sao chép duy trì bảo hộ mãi mãi thì, điều đó có nghĩa là chủ sở hữu bản quyền giữ vị trí kiểm soát sử dụng tác phẩm ngay cả khi sau khi kết thúc thời hạn bảo hộ quyền tác giả. Điều này dẫn chúng ta tới khía cạnh hết sức quan trọng mà chúng ta đã đưa ra xem xét tới việc sửa đổi: sự phù hợp giữa phạm vi bảo hộ quyền tác giả và các biện pháp công nghệ.
  Lập luận từ phía người sử dụng chỉ ra các vấn đề khác. Nếu chúng ta cố gắng đạt được sự phù hợp giữa phạm vi bảo hộ quyền tác giả với các biện pháp công nghệ thì chúng ta sẽ xử lý như thế nào với việc sử dụng hợp lý. Liệu chúng ta có theo Mỹ và lặp lại quy định sử dụng thủ thuật công nghệ trong biện pháp kiểm soát truy cập? Nếu chúng ta nhìn vào Cộng đồng Châu Âu, chúng ta sẽ thấy cách giả quyết rất khác biệt: Hà Lan thông qua luật chống dỡ bỏ các biện pháp công nghệ vì mục đích sử dụng hợp lý. Tại Pháp, Toà Tái thẩm Paris đã phán quyết là chủ sở hữu bản quyền của phim “Đường đua Mulholand” phải cho phép sao chép để dùng riêng và cấm họ bán các đĩa DVD được bảo hộ bản quyền. Điều này làm phát sinh hai câu hỏi thú vị: một là bản chất của ngoại lệ này là gì? Và mục đích của ngoại lệ sử dụng hợp lý này là gì?
  Câu hỏi thứ nhất là về bản chất của ngoại lệ sử dụng hợp lý là gì? Nếu chúng ta xem xét quyết định của người Pháp thì có vẻ như là đúng. Và họ có khả năng thực thi chúng. Các tổ chức giáo dục có xu hướng nhìn nhận chúng như là sự cho phép.  Nếu bạn có khả năng tạo bản sao bạn có thể làm điều đó. Nhưng bạn không có quyền thực hiện sao chép để dùng riêng. Nếu, thay vì đối với một quyển sách không sẵn có tại thư viện công cộng, bạn không thể chỉ cần tới nhà sách và yêu cầu làm bản sao chép để dùng riêng của quyển sách đó, thì khi nhận được cuốn tạp chí khoa học bạn có thể làm bản sao chép để dùng riêng của một bài viết - hoặc toàn bộ cuốn tạp chí. Xin nêu một ví dụ khác để làm rõ hơn điều này. Giả dụ bạn có hai đĩa CD: một là đĩa ca nhạc của Madonna, một là đĩa chứa các công thức hoá học điều chế thuốc ngủ không được cấp bằng sáng chế. Vì âm nhạc được bảo hộ bản quyền cho nên (theo Luật Thụy Sĩ) bạn phải có quyền được làm bản sao để phục vụ cho việc thông tin nội bộ trong công ty. Nhưng vì công thức không được bào hộ bản quyền cho nên không tồn tại quyền được làm bản sao đối với công thức này phục vụ cho việc thông tin nội bộ, vì ngoại lệ sử sụng hợp lý cho phép sử dụng các tác phẩm được bảo hộ nhưng lại không nói tới các tư liệu không được bảo hộ. Điều này dẫn tới kết luận là Madonna có thể được bảo hộ tốt hơn nếu cô từ bỏ quyền của mình. Kết quả là chúng ta thấy không cần thiết phải đảm bảo trong Luật quyền tác giả rằng người sử dụng có thể làm các bản sao chép để dùng riêng theo ngoại lệ sao chép sử dụng hợp lý. Đồng thời chúng ta cũng phải đảm bảo rằng người sử dụng không thể bị trừng phạt trong các trường hợp người đó chỉ thực hiện việc sử dụng được phép. Như vậy, chúng ta có thể suy luận tương tự đối với các quy định ngăn cấm dở bỏ các biện pháp bảo hộ công nghệ:
  Cấm dỡ bỏ các biện pháp công nghệ là không thể áp dụng đối với những người mà việc sử dụng đó chỉ nhằm mục đích phục vụ cho việc thực hiện sử dụng được phép hợp pháp.
  Nếu chúng ta nhìn lại mục đích của các ngoại lệ sử dụng hợp lý, chúng ta sẽ thấy được sự khác biệt. Một số ngoại lệ nhằm phục vụ lợi ích công cộng, chẳng hạn như “nhằm mục đích giáo dục”, hoặc khả năng làm bản sao dưới hình thức có thể sử dụng cho người khuyết tật. Ngoại lệ sử dụng hợp lý về sao chép để dùng riêng là nổ ra tranh cãi mạnh nhất. Hầu hết đều thấy là ngoại lệ này chỉ đơn giản như là một phần của sự cân bằng giữa lợi ích của chủ sở hữu bản quyền và người tiêu dùng. Khi người tiêu dùng có được bản sao hợp pháp người đó có quyền sao chép cho chính mình để dự phòngh hoặc sử dụng trong xe ô tô, trong phòng ngủ, vv. Lý do cơ bản ẩn sau lập luận dó là các việc sử dụng này gồm các chỗ luân phiên nhau và không phát sinh sử dụng mới.
  Viện sở hữu Trí tuệ không tán đồng quan điểm này. Cho rằng ngoạI lệ này đưa ra là để nuôi dưỡng vi phạm bản quyền. Chủ sở hữu bản quyền không thể kiểm soát việc sử dụng thuộc phạm vi cá nhân. Do đó chúng ta thấy không cần thiết để đảm bảo khả năng sao chép để dùng riêng. Riêng tư thuộc phạm vi cá nhân không bị vi phạm khi mà người tiêu dùng bị ngăn cấm sao chép để dùng riêng. Các ngoại lệ sử dụng hợp lý xuất phát từ lợi ích công cộng thuộc phạm trù khác. Ở đây các hành vi này có thể coi là cần thiết nếu cá mục đích cơ bản không bị vi phạm. Nhưng chúng ta cũng không biết thế nào là các mục đích đó bị vi phạm. Vì thế chúng ta không muốn tạo ra những quy định rõ ràng là không cần thiết và vì chúng ta cũng không có cách nào để biết những vấn đề gì sẽ có thể nảy sinh, nên chúng ta quyết định là không tạo ra  thêm các quy định nhưng sẽ thành lập một cơ quan giám sát quốc gia chịu trách nhiệm theo dõi tiến trình phát triển tiếp theo, nên cố đạt được thoả thuận giữa các bên quan tâm thì, bất đồng không phát sinh và gợi mở  các hướng sửa đổi mới Luật quyền tác giả, các sửa đổi mới phải phản ánh được các nhu cầu đó.
  Đòi hỏi từ phía các Thư viện là không thể chấp nhận được. Chúng ta không thể tạo ra các ngoại lệ sử dụng hợp lý đối với mọi tác phẩm mà thư viện muốn. Điều này đi ngược lại quyền độc quyền và cách “thử ba bước”.

  Điều 10: Hạn chế và ngoại lệ
Các quốc gia ký kết, trong pháp luật của mình, có thể quy định các hạn chế và ngoại lệ đối với các quyền cấp cho tác giả tác phẩm văn học nghệ thuật theo Hiệp ước này trong các trường hợp đặc biệt cụ thể không trái với việc khai thác bình thường tác phẩm và không xâm hại bất hợp lý đến quyền và lợi ích hợp pháp của tác giả.
  Nhưng khi chúng tôi liên hệ các thư viện chúng tôi nhận thấy có các nhu cầu cụ thể. Vấn đề này làm giảm chất lượng của bản dự thảo, vì tiêu chí ban đầu không định cụ thể hóa đến các nhu cầu cụ thể này và vượt xa ngoài phạm vi.
Tất cả những gì mà các thư viện thấy chỉ là vấn đề bảo tồn tác phẩm. Như ý kiến của tác giả Jeff Rothenbeg đã chỉ ra:

  Thông tin số hoá kéo dài hoặc là mãi mãi hoặc là 5 năm
  Vì sự bảo tồn tri thức và văn hoá là rất quan trọng cho sự phát triển tương lai, nhưng phải được cụ thể hoá. Thư viện có nhu cầu chuyển sang dữ liệu số các tư liệu thông thường và số hóa các băng từ tính để lưu trữ. Cuối cùng chúng tôi đồng ý đưa vào dự thảo các ngoại lệ sử dụng hợp lý sau:

  Thư viện, tổ chức giáo dục, bảo tàng, viện lưu trữ công cộng, vì mục tiêu bảo vệ và bảo tồn kho tàng của tố chức, có thể làm bản sao cần thiết với điều kiện là không nhằm mục đích kinh tế hoặc thương mại đối với các bản sao đó.
  Trên cơ sở quy định này, các thư viện, tổ chức giáo dục, bảo tàng, viện lưu trữ công cộng có thể biện minh cho việc dỡ bỏ các biện pháp bảo vệ sao chép sử dụng thủ thuật công nghệ. Hiển nhiên là quy định này không cho phép thư viện quyền mua một đĩa DVD rồi sao chép ra 30 bản khác để cho khách hàng thuê chúng.
  Vấn đề đặc biệt thứ hai tôi muốn trình bày là về quyền miễn trừ “tự do thông tin” do các tổ chức giáo dục nêu ra. Một lần nữa chúng ta cố gắng tìm ra lý do của yêu cầu này. Cuối cùng chúng ta cũng xác định được các vần đề sau: các nhà khoa học thông thường đều làm cho các tổ chức giáo dục. Họ được các tổ chức này thanh toán cho các công trình nghiên cứu của mình. Cuối cùng kết quả của nghiên cứu thường được xuất bản trên các tạp chí khoa học. Các tổ chức giáo dục cần mua các tạp chí này cho các nhà khoa học của họ nhưng các tạp chí này ngày càng trở nên đắt đỏ - tới 20.000USD/ năm. Các tổ chức giáo dục phàn nàn là họ phải thanh toán hai lần, một lần cho công trình nghiên cứu, một lần cho các tạp chí mà thường thì họ giữ bản quyền. Chúng tôi kết luận là không có lý do gì để quy định ngoại lệ sử dụng hợp lý ở đây. Trái với giả định của các tổ chức giáo dục, vấn đề này không thuộc lĩnh vực quyền tác giả. Sự thật là các nhà khoa học đã chuyển giao quyền tác giả và sau đó nhà xuất bản khai thác chúng, nhưng các tổ chức giáo dục có vị thế tốt để thương lượng việc sử dụng các bài viết khoa học mà họ đã thanh toán. Ví dụ các tổ chức giáo dục có thể thoả thuận trong hợp đồng lao động là bản quyền đối với các bài viết khoa học đượcc chuyển giao cho các tổ chức giáo dục và sau đó đăng bài viết này trên trang web của tổ chức giáo dục miễn phí. Hoặc họ có thể trực tiếp yêu cầu nhà khoa học đăng bài viết của họ lên diễn đàn khoa học như trên hệ thống mạng nghiên cứu khoa học xã hội (http://www.ssrn.com) miễn phí. Theo chúng tôi biết là các tổ chức giáo dục đã không làm điều đó. Các tạp chí đã tạo ra giá trị gia tăng trong quá trình làm tạp chí. Chúng ta không có đủ thời gian để tìm kiếm trên mạng cho các bài viết quan trọng. Do vậy, không cần can thiệp vào thị trường này. Những gì mà các tổ chức giáo dục trả là giá trị gia tăng của các tạp chí đó. Điều này không liên quan gì tới bản quyền tác giả.
  Các vấn đề khác phải lưu ý là các ý kiến từ phía nhà sản xuất bản ghi âm là: có cần thiết phải duy trì quản lý tập thể quyền tác giả trong thời đại kỹ thuật số. Và nếu như thế thì làm thế nào để giảm bớt tình trạng phức tạp trong lĩnh vực trả thù lao.
  Trước hết chúng ta hãy xem xét vấn đề là liệu tố chức quản lý tập thể có thể trở thành vấn đề của quá khứ. Rõ ràng là với sự bảo hộ các biện pháp công nghệ và quyền quản lý thông tin kỹ thuật số trước hành vi dỡ bỏ thì, thu hút hơn cả là tạo nên dịch vụ theo yêu cầu, cung cấp nội dung trên internet và quản lý việc sử dụng một cách số hoá. Các phản hồi là rất khác biệt, tuỳ thuộc vào đối tượng bạn tham vấn. Thành viên hội đồng quản lý của Microsoft sẽ nêu lên là việc phân phối nội dung thông qua mạng Internet của dịch vụ theo yêu cầu chỉ ra tốc độ phát triển mạnh mẽ và việc cấp phép cá thể sẽ là trong nay mai. Các tổ chức quản lý tập thể lại chỉ ra rằng dịch vụ theo yêu cầu trong lĩnh vực âm nhạc chỉ chiếm 1% tổng doanh thu trên thị trường âm nhạc. Đại diện của ICOPM, một số tổ chức trong lĩnh vực xuất bản âm nhạc sẽ nói vói bạn là cung cấp dịch vụ theo yêu cầu chưa thể thoả mãn được nhu cầu. Vậy đâu là sự thực. Điều này có thể nằm ở giữa. Dịch vụ theo yêu cầu ở đây vẫn giữ nguyên giá trị. Bất kế là chúng có thể thay thế được các hình thức phân phối truyền thống thì vẫn là để đáp ứng nhu cầu. Tôi  không chắc là các khả năng này sẽ thay thế tất cả các hình thức phân phối truyền thống, ví dụ như là sao chụp.

Ts. Luật – Emanuel Meyer - Luật sư - Cố vấn - Viện sở hữu trí tuệ Liên bang Thụy Sĩ
Nguồn: www.hca.org.vn

Các tin tiếp
Các tin trước
TIÊU ĐIỂM
Xem nhiều nhất