Luật Thanh tra
14:59' 15/2/2008
Để đáp ứng kịp thời yêu cầu của công cuộc đổi mới, tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế phát triển trong cơ chế thị trường, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước như Nghị quyết Trung ương 8 (Khóa VII), Nghị quyết Trung ương 3 (Khóa VIII) và Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã khẳng định phải đổi mới tổ chức và hoạt động thanh tra, hoàn thiện thể chế pháp luật về thanh tra, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác thanh tra và coi đó là một trong những nội dung quan trọng của cải cách nền hành chính Nhà nước, khắc phục những hạn chế của Pháp lệnh thanh tra năm 1990, đồng thời thể chế hóa những chủ trương, đường lối của Đảng, đáp ứng yêu cầu cải cách nền hành chính nhà nước, nâng cao hiệu quả, hiệu lực công tác thanh tra, việc xây dựng Luật thanh tra là một đòi hỏi khách quan và cần thiết.


I.  SỰ CẦN THIẾT, MỤC ĐÍCH Ý NGHĨA CỦA VIỆC BAN HÀNH LUẬT THANH TRA
 
1. Sự cần thiết xây dựng Luật thanh tra
Pháp lệnh thanh tra được ban hành năm 1990, Những năm qua, thực hiện Pháp lệnh thanh tra, các tổ chức Thanh tra nhà nước đã được xây dựng thành hệ thống và được kiện toàn ở các cấp, các ngành. Đội ngũ cán bộ thanh tra đã được tăng cường một bước cả về số lượng và chất lượng. Hiệu lực, hiệu quả công tác thanh tra không ngừng được nâng cao, góp phần quan trọng vào việc tăng cường trật tự, kỷ cương trong quản lý nhà nước. Tuy nhiên, qua 14 năm thực hiện, nhiều quy định của Pháp lệnh thanh tra đã bộc lộ những khiếm khuyết, bất cập thể hiện ở những điểm sau:

- Pháp lệnh Thanh tra được ban hành trên cơ sở Hiến pháp năm 1980, phù hợp với cơ chế quản lý hành chính tập trung, bao cấp. Trong điều kiện chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cơ chế quản lý mới đã tác động sâu sắc đến phạm vi, đối tượng và nội dung thanh tra. Các quy định của Pháp lệnh không đáp ứng và chưa điều chỉnh hết những vấn đề liên quan đến hoạt động thanh tra, yêu cầu của công tác quản lý. Tổ chức các cơ quan thanh tra cấp và ngành chưa hợp lý; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn chưa đầy đủ; trình tự, thủ tục thanh tra còn chung chung, chưa phân biệt rõ giữa hoạt động thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành. Nhiệm vụ, quyền hạn của người đứng đầu cơ quan thanh tra, Thủ trưởng các cơ quan quản lý  nhà nước đối với công tác thanh tra chưa được xác định đầy đủ, rõ ràng v.v… Vì vậy đã làm giảm hiệu quả công tác thanh tra.

- Mặt khác, thời gian qua, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật thể chế hóa Hiến pháp năm 1992, trong đó có những quy định về thanh tra khác với Pháp lệnh thanh tra. Những năm gần đây, do yêu cầu của việc tăng cường quản lý nhà nước theo ngành, lĩnh vực nên ở một số bộ ngành, địa phương đã thành lập tổ chức thanh tra chuyên ngành độc lập với thanh tra bộ, thanh tra sở như: thanh tra chuyên ngành bảo vệ nguồn lợi thủy sản, bảo vệ thực vật, an toàn lao động, an toàn hàng không, an toàn hàng hải v.v… Việc hình thành thanh tra chuyên ngành là tất yếu, khách quan của quản lý nhà nước. Tuy nhiên, do chưa có những quy định điều chỉnh kịp thời và do có những nhận thức khác nhau cho nên các tổ chức thanh tra chuyên ngành được hình thành vượt ra khỏi phạm vi điều chỉnh của Pháp lệnh thanh tra. Cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Thanh tra bộ, ngành, thanh tra chuyên ngành cũng hết sức khác nhau dẫn đến sự chồng chéo, trùng lắp trong hoạt động thanh tra, làm giảm hiệu lực, hiệu quả công tác thanh tra, gây phiền hà cho cơ quan, tổ chức, cá nhân được thanh tra.

Đồng thời, với sự ra đời của Tòa án hành chính năm 1996 và việc ban hành Luật khiếu nại, tố cáo năm 1998 đã làm thay đổi căn bản nhiệm vụ giải quyết khiếu nại, tố cáo của các cơ quan Thanh tra Nhà nước.

Từ những lý do trên, để đáp ứng kịp thời yêu cầu của công cuộc đổi mới, tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế phát triển trong cơ chế thị trường, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước như Nghị quyết Trung ương 8 (Khóa VII), Nghị quyết Trung ương 3 (Khóa VIII) và Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã khẳng định phải đổi mới tổ chức và hoạt động thanh tra, hoàn thiện thể chế pháp luật về thanh tra, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác thanh tra và coi đó là một trong những nội dung quan trọng của cải cách nền hành chính Nhà nước.
Để khắc phục những hạn chế của Pháp lệnh thanh tra năm 1990, đồng thời thể chế hóa những chủ trương, đường lối của Đảng, đáp ứng yêu cầu cải cách nền hành chính nhà nước, nâng cao hiệu quả, hiệu lực công tác thanh tra, việc xây dựng Luật thanh tra là một đòi hỏi khách quan và cần thiết.

2.Mục đích, ý nghĩa của việc ban hành Luật thanh tra
Luật thanh tra đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 26 tháng 05 năm 2004 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 10 năm 2004. Đây là văn bản pháp luật lớn nhất, quy mô nhất từ trước đến nay điều chỉnh một cách toàn diện về tổ chức, hoạt động Thanh tra nhà nước và thanh tra nhân dân, là công cụ pháp lý quan trọng để kiện toàn tổ chức và nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác thanh tra, góp phần xây dựng hệ thống thanh tra theo hướng chính quy, hiện đại, đáp ứng yêu cầu thực tiễn đang đặt ra.

Luật thanh tra đã quán triệt quan điểm của Đảng và Nhà nước về xây dựng và hoàn thiện nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam, về đổi mới các cơ quan nhà nước, về cải cách hành chính nhà nước; thể chế hoá quan điểm của Đảng về công tác thanh tra trong thời kỳ đổi mới.

Luật thanh tra đã kế thừa và phát triển những ưu điểm, các quy định còn hợp lý của Pháp lệnh thanh tra và các văn bản pháp luật khác về thanh tra, đồng thời khắc phục những hạn chế, bất cập và bổ sung hoàn thiện quy định pháp luật về thanh tra, đáp ứng yêu cầu phát triển ngành thanh tra trong điều kiện đổi mới cơ chế quản lý nhà nước.

Luật thanh tra tiếp tục khẳng định và làm rõ hơn vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ,  quyền hạn của các cơ quan Thanh tra nhà nước, là bộ phận quan trọng không thể thiếu được trong cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước, là chức năng thiết yếu của các cơ quan quản lý nhà nước, là công cụ đắc lực để giữ gìn, bảo vệ và tăng cường trật tự, kỷ cương quản lý, phục vụ thiết thực cho sự nghiệp đổi mới, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước.

Việc ban hành Luật thanh tra tạo cơ sở pháp lý quan trọng để kiện toàn một cách cơ bản về tổ chức thanh tra, khắc phục tình trạng chồng chéo, trùng lắp trong hoạt động thanh tra, phân định rõ về tổ chức, hoạt động thanh tra theo cấp hành chính và thanh tra theo ngành, lĩnh vực, đồng thời làm rõ trình tự thủ tục tiến hành thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành.

Luật thanh tra đề cao và tăng cường trách nhiệm của cơ quan thanh tra, người đứng đầu cơ quan thanh tra các cấp, các ngành trong việc quản lý nhà nước về công tác thanh tra, thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn về thanh tra trong phạm vi quản lý của thủ trưởng cơ quan nhà nước cùng cấp; trong việc thực hiện nhiệm vụ giải quyết khiếu nại, tố cáo và chống tham nhũng theo quy định của pháp luật khiếu nại, tố cáo và chống tham nhũng; nâng cao vai trò, trách nhiệm của thủ trưởng các cơ quản lý nhà nước trong việc tổ chức, chỉ đạo và chịu trách nhiệm về công tác thanh tra trong phạm vi do mình phụ trách.

Để thể hiện quan điểm của Đảng về xây dựng nhà nước của dân, do dân và vì dân,  Luật thanh tra tiếp tục khẳng định và làm rõ hơn vai trò, chức năng nhiệm vụ của các ban thanh tra nhân dân, là một trong những phương thức thực hiện quyền dân chủ trực tiếp của nhân dân.

II. CÁC QUAN ĐIỂM VÀ NGUYÊN TẮC XÂY DỰNG LUẬT THANH TRA

1. Quán triệt những quan điểm của Đảng và Nhà nước về xây dựng, hoàn thiện Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam, về đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước, cải cách nền hành chính nhà nước.
2. Việc xây dựng Luật thanh tra phải trên cơ sở tổng kết thực tiễn công tác thanh tra từ khi ban hành Pháp lệnh thanh tra năm 1990 đến nay; đánh giá những ưu điểm, khiếm khuyết của Pháp lệnh, kế thừa những quy định còn phù hợp của Pháp lệnh và các quy định về thanh tra của những văn bản khác.
3. Việc xây dựng Luật thanh tra phải đảm bảo tính đồng bộ và thống nhất của hệ thống pháp luật, đáp ứng yêu cầu của công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, chống tham nhũng.
4. Các quy định của Luật thanh tra phải phù hợp với nội dung và bước đi của quá trình cải cách nền hành chính nhà nước, đáp ứng được yêu cầu tăng cường hiệu quả quản lý, xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh, phục vụ thiết thực sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
5. Việc xây dựng Luật thanh tra phải trên cơ sở mở rộng nghiên cứu và tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm về tổ chức và hoạt động thanh tra của các nước trên thế giới.

III. PHẠM VI ĐIỀU CHỈNH VÀ CƠ CẤU CỦA LUẬT THANH TRA

1. Phạm vi điều chỉnh của Luật thanh tra.
Phạm vi điều chỉnh của Luật thanh tra là vấn đề cơ bản và quan trọng, quyết định và chi phối toàn bộ nội dung, cơ cấu và bố cục của Luật thanh tra. Vì vậy, vấn đề này đã được xác định rõ trong Điều 1: Luật này quy định về tổ chức và hoạt động của thanh tra nhà nước và thanh tra nhân dân. Các cơ quan thanh tra nhà nước được thành lập ở các cấp hành chính (Thanh tra Chính phủ, Thanh tra tỉnh, Thanh tra huyện) và thành lập ở các cơ quan quản lý nhà nước theo ngành và lĩnh vực (thanh tra bộ, Thanh tra sở). Các Ban thanh tra nhân dân được thành lập ở xã, phường, thị trấn, cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp Nhà nước.

Về mục đích thanh tra: Mục đích thanh tra được khẳng định tại Điều 3 Luật thanh tra:
"Hoạt động thanh tra nhằm phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật; phát hiện những sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền các biện pháp khắc phục; phát huy nhân tố tích cực; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước; bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân".

Về phạm vi thanh tra.
Kế thừa các quy định còn phù hợp của Pháp lệnh thanh tra, Luật thanh tra tiếp tục khẳng định về phạm vi thanh tra của các cơ quan thanh tra nhà nước là "Cơ quan thanh tra nhà nước tiến hành thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức và cá nhân thuộc quyền quản lý của cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp" (Điều 2).

Như vậy, có thể hiểu phạm vi hoạt động thanh tra là khá rộng. Nó không chỉ là xem xét, đánh giá việc chấp hành chính sách, pháp luật của các cơ quan, tổ chức, cá nhân mà còn bao hàm cả việc xem xét, đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ của cơ quan nhà nước, của công chức nhà nước và của cấp trên đối với cấp dưới.

2. Cơ cấu của Luật thanh tra
Luật thanh tra đã được xây dựng thành 5 chương với 70 điều, điều chỉnh những nội dung chủ yếu sau:
Chương I: Những quy định chung, gồm 12 Điều, từ Điều 1 đến Điều 12.

Chương II: Tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan Thanh tra Nhà nước, gồm 22 điều, từ Điều 12 đến Điều 33 và được chia thành 3 mục.
Mục 1: Cơ quan thanh tra ở các cấp hành chính.
Mục 2: Cơ quan thanh tra theo ngành, lĩnh vực.
Mục 3: Thanh tra viên, cộng tác viên thanh tra. 
 
Chương III: Hoạt động thanh tra, gồm 24 điều, từ Điều 34 đến Điều 57 và được chia thành 4 mục.
Mục 1: Hoạt động thanh tra hành chính.
Mục 2: Hoạt động thanh tra chuyên ngành.
Mục 3: Quyền và nghĩa vụ của đối tượng thanh tra; giải quyết khiếu nại, tố cáo về thanh tra.
Mục 4: Hồ sơ thanh tra, trách nhiệm của cơ quan điều tra.

Chương IV: Thanh tra nhân dân, gồm 10 điều, từ Điều 58 đến Điều 67 và được chia thành 2 mục.
Mục 1: Ban thanh tra nhân dân ở xã, phường, thị trấn.
Mục 2: Ban thanh tra nhân dân ở cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp nhà nước.

Chương V: Điều khoản thi hành, gồm 3 điều, từ Điều 68 đến Điều 70.

IV. NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT THANH TRA

1.Về cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan thanh tra.
a.  Về cơ cấu tổ chức của các cơ quan thanh tra.
Đây là một trong những nội dung cơ bản của Luật thanh tra và là vấn đề trọng tâm về đổi mới tổ chức và hoạt động thanh tra. Vì vậy,  quá trình xây dựng Luật đã có nhiều ý kiến đối với việc xác định cơ cấu tổ chức của các cơ quan thanh tra nhà nước. Hầu hết các ý kiến đều khẳng định thanh tra là chức năng thiết yếu của cơ quan quản lý nhà nước. Cơ quan  thanh tra được xác định là cơ quan của cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp, thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn thanh tra trong phạm vi quản lý của thủ trưởng cùng cấp.

Như vậy, về cơ bản cơ cấu tổ chức của các cơ quan thanh tra nhà nước được kế thừa các quy định còn phù hợp của Pháp lệnh thanh tra, nhưng được tổ chức lại cho phù hợp với đặc điểm, tính chất của hoạt động thanh tra theo cấp hành chính và theo ngành, lĩnh vực, tăng cường công tác thanh tra đối với các hoạt động trong phạm vi quản lý của các Bộ, ngành và Uỷ ban nhân dân các cấp, phục vụ kịp thời yêu cầu chỉ đạo, điều hành của các cơ quan quản lý nhà nước.

"Các cơ quan Thanh tra nhà nước được thành lập theo cấp hành chính và được thành lập ở các cơ quan quản lý theo ngành, lĩnh vực. Cơ quan Thanh tra nhà nước các cấp chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp; đồng thời chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn về công tác, tổ chức và nghiệp vụ của Thanh tra Chính phủ, chịu sự hướng dẫn về công tác,  nghiệp vụ của cơ quan thanh tra cấp trên" (Điều 10).

Quy định về tổ chức của các cơ quan thanh tra như trên là phù hợp với nguyên tắc tổ chức bộ máy hành chính nhà nước ta hiện nay là sự kết hợp quản lý theo ngành, lĩnh vực và theo lãnh thổ, phù hợp với Luật tổ chức Chính phủ, Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân các cấp.

Về tổ chức các cơ quan thanh tra theo cấp hành chính:
Cơ quan thanh tra theo cấp hành chính bao gồm: Thanh tra Chính phủ; Thanh tra tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là thanh tra tỉnh); Thanh tra quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (goị chung là thanh tra huyện).
- Thanh tra Chính phủ là cơ quan của Chính phủ, chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về công tác thanh tra và thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn thanh tra trong phạm vi quản lý nhà nước của Chính phủ.
Trong cơ cấu tổ chức của Thanh tra Chính phủ có Tổng thanh tra, Phó Tổng thanh tra và Thanh tra viên. Tổng thanh tra là thành viên Chính phủ, do Thủ tướng Chính phủ đề nghị Quốc hội phê chuẩn và Chủ tịch nước bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức. Tổng thanh tra chịu trách nhiệm trước Quốc hội và Thủ tướng Chính phủ về công tác thanh tra.
+ Thanh tra tỉnh là cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, có trách nhiệm giúp Uỷ ban nhân dân cùng cấp quản lý nhà nước về công tác thanh tra và thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn thanh tra hành chính trong phạm vi quản lý nhà nước của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh.
Thanh tra tỉnh có Chánh thanh tra, Phó Chánh thanh tra và Thanh tra viên. Khác với các quy định của Pháp lệnh thanh tra, Luật thanh tra quy định Chánh thanh tra tỉnh do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cùng cấp bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức sau khi thống nhất với Tổng thanh tra.
- Thanh tra huyện là cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân cấp huyện, có trách nhiệm giúp Uỷ ban nhân dân cùng cấp quản lý nhà nước về công tác thanh tra và thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn thanh tra hành chính trong phạm vi quản lý nhà nước của Uỷ ban nhân dân cấp huyện.
- Thanh tra huyện có Chánh thanh tra, Phó Chánh thanh tra và Thanh tra viên, Chánh thanh tra huyện do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức sau khi thống nhất với Chánh thanh tra tỉnh.
Khác với các quy định của Pháp lệnh thanh tra, Luật thanh tra không quy định về chức năng thanh tra nhà nước ở xã, phường, thị trấn mà với tinh thần chung là giao nhiệm vụ thanh tra ở xã, phường, thị trấn cho Thanh tra cấp huyện đảm nhiệm.

Về tổ chức cơ quan thanh tra theo ngành, lĩnh vực.
Tổ chức cơ quan thanh tra theo ngành lĩnh vực bao gồm: Thanh tra bộ, cơ quan ngang bộ, thanh tra của cơ quan thuộc Chính phủ; Thanh tra sở.
- Thanh tra bộ, cơ quan ngang bộ (gọi chung là thanh tra bộ). Thanh tra bộ có thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành.
Nhằm khắc phục tình trạng phân tán, chồng chéo về tổ chức thanh tra ở các bộ, ngành, bảo đảm sự chỉ đạo thống nhất của Bộ trưởng để kiểm soát chặt chẽ, toàn diện đối với hoạt động thanh tra trong các ngành, lĩnh vực do bộ, ngành quản lý, Luật thanh tra xác định có tính nguyên tắc mỗi bộ, ngành có một tổ chức thanh tra. Thanh tra bộ sẽ là đầu mối giúp Bộ trưởng quản lý toàn bộ công tác thanh tra, kể cả thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành.
Thanh tra bộ sẽ được tổ chức theo hướng có một bộ phận làm nhiệm vụ thanh tra hành chính và một số bộ phận làm nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành. Mỗi bộ phận thanh tra có thể sẽ do một Phó Chánh thanh tra phụ trách. Thanh tra chuyên ngành có thể được đặt tại bộ, nằm trong cơ cấu tổ chức của thanh tra bộ hoặc ở các cục, tổng cục được giao nhiệm vụ quản lý nhà nước chuyên ngành, các bộ phận thanh tra này vẫn là cơ quan của thanh tra bộ, do thanh tra bộ chỉ đạo về công tác, tổ chức và nghiệp vụ.
Đối với các bộ quản lý theo ngành dọc hoặc có các cục, tổng cục được giao thực hiện chức năng quản lý nhà nước chuyên ngành được tổ chức theo hệ thống dọc thì Thanh tra bộ còn được đặt tại các cơ quan của bộ, ngành đặt tại địa phương (như Thanh tra ngân hàng, Thanh tra bưu chính viễn thông, thanh tra thuế). Tuy nhiên, các bộ phận này còn chịu sự chỉ đạo trực tiếp của thủ trưởng cơ quan quản lý cùng cấp.
Mô hình tổ chức thanh tra bộ là vấn đề rất phức tạp, Quốc hội đồng ý trên nguyên tắc mỗi bộ chỉ có một tổ chức thanh tra và Bộ trưởng là người chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động thanh tra trong việc thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với ngành, lĩnh vực mà bộ phụ trách. Xuất phát từ tính chất, đặc điểm trong quản lý đa ngành, đa lĩnh vực của các bộ, ngành, Chính phủ sẽ qui định cụ thể về tổ chức, hoạt động của thanh tra bộ, ngành.

- Về tổ chức thanh tra trong các cơ quan thuộc Chính phủ:
Điều 23 Luật thanh tra quy định cơ quan thuộc Chính phủ có chức năng quản lý nhà nước theo ngành, lĩnh vực được thành lập cơ quan thanh tra. Tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan thanh tra của cơ quan thuộc Chính phủ được áp dụng như đối với Thanh tra bộ. Đây là nội dung mới khác với quy định của Pháp lệnh thanh tra. Trước đây, các cơ quan thuộc Chính phủ đều có cơ quan thanh tra nhà nước và tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn giống như Thanh tra bộ, cơ quan ngang bộ. Quy định này là phù hợp với thực tiễn và lúc đó tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của cơ quan này không khác nhiều so với bộ, cơ quan ngang bộ. Tuy nhiên, quy định này không còn phù hợp nữa khi chúng ta tiến hành cải cách nền hành chính nhà nước theo hướng giảm mạnh các cơ quan thuộc Chính phủ và tổ chức trực thuộc Thủ tướng Chính phủ. Chỉ duy trì một số ít cơ quan thuộc Chính phủ có tính chất chuyên môn nghiệp vụ phục vụ cho công việc quản lý vĩ mô của Chính phủ, nhập một số cơ quan thuộc Chính phủ vào các bộ có lĩnh vực quản lý thích hợp. Trong số các cơ quan thuộc Chính phủ còn rất ít cơ quan được giao chức năng quản lý nhà nước theo ngành đối với một số lĩnh vực như Tổng cục Du lịch, Tổng cục Thống kê. Vì vậy, Luật thanh tra đưa ra một quy định mở đối với các cơ quan thuộc Chính phủ có chức năng quản lý nhà nước theo ngành, lĩnh vực được thành lập cơ quan thanh tra. Tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan thanh tra của những cơ quan này được áp dụng như đối với thanh tra bộ.
 
- Thanh tra sở.
Kế thừa các quy định của Pháp lệnh thanh tra, Luật thanh tra tiếp tục quy định về Thanh tra sở. Tuy nhiên, theo quy định của Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân được sửa đổi năm 2003, sở được xác định là cơ quan chuyên môn của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, trong đó có những sở được giao thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước theo uỷ quyền của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh hoặc theo quy định của pháp luật. Trên tinh thần đó Luật thanh tra quy định Thanh tra sở chỉ được thành lập ở những sở thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước theo ủy quyền của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc theo qui định của pháp luật (Điều 23).
Thanh tra sở là cơ quan của sở, có trách nhiệm giúp Giám đốc sở thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của Giám đốc sở.
Thanh tra sở có Chánh thanh tra, Phó Chánh thanh tra và Thanh tra viên. Chánh thanh tra sở do Giám đốc sở bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức sau khi thống nhất với Chánh thanh tra tỉnh.

Về mối quan hệ giữa các cơ quan trong hệ thống thanh tra nhà nước: Luật thanh tra tiếp tục khẳng định tính hệ thống của các cơ quan Thanh tra nhà nước, mối quan hệ giữa cơ quan thanh tra cấp trên đối với cơ quan thanh tra cấp dưới trong các mặt công tác, tổ chức, nghiệp vụ. Tuy nhiên, căn cứ vào vị trí, vai trò, nội dung hoạt động cũng như mối quan hệ cụ thể trực tiếp mà Luật thanh tra quy định rõ hơn mức độ trong chỉ đạo, hướng dẫn các mặt công tác nói trên.
Thanh tra Chính phủ chỉ đạo, hướng dẫn về công tác, tổ chức, nghiệp vụ đối với thanh tra bộ, thanh tra tỉnh. Thanh tra tỉnh hướng dẫn công tác nghiệp vụ thanh tra hành chính; phối hợp với cơ quan, tổ chức hữu quan hướng dẫn chế độ, chính sách, tổ chức biên chế đối với thanh tra huyện, thanh tra sở.
Thanh tra bộ hướng dẫn về nghiệp vụ thanh tra chuyên ngành đối với thanh tra sở; hướng dẫn, kiểm tra các đơn vị thuộc bộ thực hiện những qui định pháp luật về thanh tra.

b.  Về nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan thanh tra, người đứng đầu các cơ quan thanh tra.
Kế thừa tinh thần Pháp lệnh thanh tra, Luật khiếu nại, tố cáo và Pháp lệnh chống tham nhũng, Luật thanh tra quy định về nhiệm vụ, quyền hạn chung của các cơ quan thanh tra nhà nước là giúp thủ trưởng cơ quan cùng cấp quản lý nhà nước về công tác thanh tra và thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn thanh tra trong phạm vi quản lý nhà nước của cơ quan cùng cấp, có các nhiệm vụ, quyền hạn sau:
- Thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc thẩm quyền quản lý của cơ quan  nhà nước cùng cấp; thanh tra vụ việc do thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp giao.
- Thực hiện nhiệm vụ giải quyết khiếu nại, tố cáo theo qui định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo.
- Thực hiện nhiệm vụ phòng ngừa và chống tham nhũng theo qui định của pháp luật về chống tham nhũng.
- Hướng dẫn công tác, tổ chức, nghiệp vụ thanh tra; tổng hợp các kết quả thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo; chống tham nhũng thuộc phạm vi quản lý của thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp; thực hiện nhiệm vụ quyền hạn khác theo quy định của pháp luật. Riêng thanh tra Chính phủ có nhiệm vụ xây dựng văn bản quy phạm pháp luật thanh tra, khiếu nại tố cáo, chống tham nhũng, trình cấp có thẩm quyền hoặc ban hành theo thẩm quyền; hướng dẫn, tuyên truyền, kiểm tra, thanh tra việc thực hiện pháp luật về thanh tra, khiếu nại, tố cáo, chống tham nhũng. Chỉ đạo, hướng dẫn công tác tổ chức, nghiệp vụ thanh tra, bồi dưỡng nghiệp vụ cho thanh tra viên; thực hiện sự hợp tác quốc tế về thanh tra.
Nhiệm vụ, quyền hạn quan trọng nhất của thanh tra bộ, thanh tra sở là: thanh tra việc chấp hành chính sách, pháp luật chuyên ngành của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi quản lý nhà nước theo ngành, lĩnh vực do bộ, ngành phụ trách (thanh tra chuyên ngành); có quyền xử phạt vi phạm hành chính theo qui định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.
Như vậy, các cơ quan thanh tra cấp chủ yếu tập trung vào thanh tra việc chấp hành chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc thẩm quyền quản lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền chung. Còn các cơ quan thanh tra ngành, lĩnh vực tập trung thanh tra cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc quyền quản lý nhà nước của cơ quan nhà nước có thẩm quyền riêng.

Nhiệm vụ, quyền hạn của người đứng đầu cơ quan thanh tra: Luật thanh tra đã quy định theo hướng đề cao trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan thanh tra, là người chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước thủ trưởng cơ quan quản lý cùng cấp trong việc quản lý nhà nước về công tác thanh tra và thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn thanh tra. Theo quy định của Pháp lệnh thanh tra năm 1990, thì người đứng đầu cơ quan thanh tra chỉ có trách nhiệm chỉ đạo về công tác, tổ chức, nghiệp vụ đối với cơ quan thanh tra cấp dưới. Luật thanh tra lần này quy định trách nhiệm cao hơn của người đứng đầu cơ quan thanh tra trong việc lãnh đạo, chỉ đạo về tổ chức và hoạt động thanh tra đối với cơ quan nhà nước thuộc quyền quản lý của thủ trưởng cùng cấp. Tổng thanh tra, Chánh thanh tra có trách nhiệm:
- Lãnh đạo, chỉ đạo công tác thanh tra trong phạm vi quản lý nhà nước của thủ trưởng cơ quan cùng cấp.
- Xây dựng chương trình, kế hoạch thanh tra trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt và tổ chức thực hiện chương trình, kế hoạch đó.
- Đề nghị thủ trưởng cơ quan tiến hành việc thanh tra thuộc phạm vi quản lý của cơ quan đó.
- Kiến nghị thủ trưởng cơ quan cùng cấp xem xét trách nhiệm, xử lý người có hành vi vi phạm, phối hợp với người đứng đầu cơ quan, tổ chức trong việc xem xét trách nhiệm, xử lý người có hành vi vi phạm...
- Có quyền xem xét những vấn đề mà Chánh thanh tra cấp dưới chưa nhất trí với thủ trưởng cơ quan quản lý cùng cấp về công tác thanh tra, đề nghị thủ trưởng cơ quan này xem xét lại, trường hợp đề nghị đó không được giải quyết thì báo cáo thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cấp trên trực tiếp quyết định. Có quyền bảo lưu ý kiến của mình và báo cáo Chánh thanh tra cấp trên về việc không nhất trí với thủ trưởng cơ quan cùng cấp về công tác thanh tra.
Đối với Tổng thanh tra vừa là người đứng đầu cơ quan quản lý nhà nước vừa là người đứng đầu cơ quan thanh tra Chính phủ có trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo Thanh tra Chính phủ quản lý nhà nước về công tác thanh tra, thực hiện quyền thanh tra trong phạm vi quản lý nhà nước của Chính phủ.
Tổng Thanh tra có quyền:
- Quyết định thanh tra những vụ việc khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật.
- Đề nghị Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thanh tra trong phạm vi quản lý của bộ, cơ quan ngang bộ, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
- Kiến nghị Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ đình chỉ việc thi hành hoặc huỷ bỏ những quy định do bộ, ngành đã ban hành trái với các văn bản pháp luật của nhà nước, của Tổng thanh tra về công tác thanh tra; nếu Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ không đình chỉ hoặc huỷ bỏ văn bản đó thì trình Thủ tướng Chính phủ quyết định.
- Đình chỉ việc thi hành và đề nghị Thủ tướng Chính phủ bác bỏ những qui định của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trái với văn bản của Tổng thanh tra về công tác thanh tra.

4. Về hoạt động của các cơ quan thanh tra:
Đây là nội dung trọng tâm, chủ yếu của Luật thanh tra, căn cứ vào tính chất, đặc điểm của các loại hình thanh tra, trên cơ sở yêu cầu thực tiễn hiện nay, Luật thanh tra quy định rõ về trình tự thủ tục thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành; nhiệm vụ, quyền hạn của trưởng đoàn thanh tra (Điều 39, Điều 41), của thành viên đoàn thanh tra (Điều 40, Điều 50), của người ra quyết định thanh tra (Điều 42); việc lập báo cáo kết quả thanh tra (Điều 41), kết luận thanh tra (Điều 43), quyền, nghĩa vụ của đối tượng thanh tra (Điều 53, Điều 54); hồ sơ thanh tra (Điều 56), trách nhiệm của cơ quan điều tra (Điều 57); hình thức thanh tra (Điều 34, Điều 45), thẩm quyền phê duyệt chương trình, kế hoạch thanh tra, thẩm quyền căn cứ ra quyết định thanh tra (Điều 36, Điều 47), nội dung quyết định thanh tra (Điều 37), thời gian thanh tra (Điều 38, Điều 48):

a. Hoạt động thanh tra hành chính
 Hình thức thanh tra hành chính: Hoạt động thanh tra hành chính được thực hiện dưới hình thức thanh tra theo chương trình,  kế hoạch và thanh tra đột xuất.
Thanh tra theo chương trình, kế hoạch được tiến hành theo chương trình,  kế hoạch đã được phê duyệt; Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện, Giám đốc sở có trách nhiệm phê duyệt chương trình, kế hoạch thanh tra hàng năm do Tổng thanh tra, Chánh thanh tra cùng cấp trình chậm nhất vào ngày 31 tháng 12 của năm trước.
Thanh tra đột xuất là thanh tra được tiến hành khi phát hiện cơ quan, tổ chức, cá nhân có dấu hiệu vi phạm pháp luật, theo yêu cầu của việc giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc do Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền giao.
- Quyết định thanh tra: Hoạt động thanh tra chỉ được thực hiện khi có quyết định thanh tra. Thủ trưởng cơ quan thanh tra ra quyết định thanh tra và thành lập Đoàn thanh tra trên cơ sở chương trình,  kế hoạch đã được phê duyệt. Khi xét thấy cần thiết, Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước ra quyết định thanh tra và thành lập Đoàn thanh tra.
Đoàn thanh tra có Trưởng đoàn thanh tra và các thành viên. Việc ra quyết định thanh tra phải có một trong các căn cứ sau đây: Chương trình,  kế hoạch thanh tra đã được phê duyệt; yêu cầu của Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước; khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật. Quyết định thanh tra phải ghi rõ: Căn cứ pháp lý để thanh tra; đối tượng, nội dung, phạm vi, nhiệm vụ thanh tra; thời hạn tiến hành thanh tra; Trưởng đoàn thanh tra và các thành viên khác của Đoàn thanh tra .

- Về thời hạn thanh tra: Thời hạn thực hiện một cuộc thanh tra được quy định như sau:
Cuộc thanh tra do Thanh tra Chính phủ tiến hành không quá 60 ngày, trường hợp phức tạp có thể kéo dài,  nhưng không quá 90 ngày. Đối với cuộc thanh tra đặc biệt phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh vực, nhiều địa phương thì thời hạn thanh tra có thể kéo dài,  nhưng không quá 150 ngày.
Cuộc thanh tra do Thanh tra tỉnh, Thanh tra bộ tiến hành không qua 40 ngày, trường hợp phức tạp có thể kéo dài nhưng không quá 70 ngày.
Cuộc thanh tra do thanh tra huyện, thanh tra sở tiến hành không quá 30 ngày; ở miền núi, nơi nào đi lại khó khăn thì thời hạn thanh tra có thể kéo dài nhưng không quá 45 ngày (việc kéo dài thời hạn thanh tra do người có thẩm quyền ra quyết định thanh tra quyết định). Thời hạn của cuộc thanh tra được tính từ ngay công bố quyết định thanh tra đến khi kết thúc việc thanh tra tại nơi được thanh tra.

- Nhiệm vụ quyền hạn của trưởng đoàn thanh tra (Điều 39 và Điều 49) Trên nguyên tắc xác định trách nhiệm tập trung chủ yếu trong việc tổ chức tiến hành và chịu trách nhiệm về kết quả thanh tra, Luật thanh tra tăng cường quyền hạn cho Trưởng đoàn thanh tra. Trưởng đoàn có quyền tổ chức, chỉ đạo các thành viên trong đoàn thực hiện đúng nội dung, đối tượng, thời hạn đã ghi trong quyết định thanh tra; có quyền áp dụng các biện pháp cần thiết thu thập thông tin, tài liệu để xác minh tình tiết làm chứng cứ cho việc kết luận, xử lý hoặc làm rõ nội dung đã ghi trong quyết định thanh tra; có quyền áp dụng các biện pháp theo thẩm quyền để ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật, quyết định kiểm kê tài sản, niêm phong tài liệu, tạm đình chỉ việc làm của đối tượng... Trong trường hợp vượt quá thẩm quyền thì kiến nghị cơ quan có thẩm quyền hoặc người ra quyết định thanh tra xử lý.

- Nhiệm vụ, quyền hạn của thành viên đoàn thanh tra (Điều 40, Điều 50): Các thành viên đoàn thanh tra được thực hiện một số quyền hạn cụ thể để hoàn thành nhiệm vụ được giao, phải báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ với trưởng đoàn và chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước trưởng đoàn về tính chính xác, trung thực, khách quan về nội dung đã báo cáo. Có quyền yêu cầu đối tượng thanh tra cung cấp thông tin, tài liệu, báo cáo bằng văn bản, giải trình về những vấn đề liên quan đến nội dung thanh tra; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin, tài liệu  liên quan đến nội dung thanh tra, kiến nghị Trưởng đoàn áp dụng các biện pháp thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Trưởng đoàn và xử lý những vấn đề liên quan đến nội dung thanh tra.

- Nhiệm vụ, quyền hạn của người ra quyết định thanh tra (Điều 42): Người ra quyết định thanh tra có 12 nhiệm vụ, quyền hạn: Chỉ đạo, kiểm tra đoàn thanh tra thực hiện đúng nội dung, thời hạn ghi trong quyết định; được áp dụng các biện pháp để buộc đối tượng, cơ quan tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp  thông tin, tài liệu, báo các bằng văn bản giải trình về những vấn đề liên quan đến nội dung thanh tra; quyết định việc trưng cầu giám định, đình chỉ việc làm của đối tượng; ra quyết định xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị người có thẩm quyền xử lý; quyết định thu hồi tiền, tài sản bị chiếm đoạt, sử dụng trái phép hoặc bị thất thoát do hành vi trái pháp luật của đối tượng thanh tra gây ra; kết luận về nội dung thanh tra; giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến trách nhiệm của Trưởng đoàn thanh tra; chuyển hồ sơ vụ việc vi phạm pháp luật có dấu hiệu của tội phạm sang cơ quan điều tra.
Ngoài quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Người ra quyết định thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra, Luật thanh tra còn quy định trong một số trường hợp khi xét thấy không cần thiết áp dụng các biện pháp theo thẩm quyền thì những người này phải quyết định hoặc kiến nghị huỷ bỏ ngay việc áp dụng đó. Trưởng đoàn thanh tra, Người ra quyết định thanh tra phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình, nếu có hành vi vi phạm pháp luật thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà có thể bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại phải bồi thường hoặc bồi hoàn theo quy định của pháp luật.

- Về báo cáo kết quả thanh tra và kết luận thanh tra: Để đổi mới phương thức thanh tra, nhằm tăng cường trách nhiệm của Trưởng đoàn và Thủ trưởng cơ quan thanh tra đối với toàn bộ nội dung kết quả thanh tra, Luật thanh tra có qui định mới về việc báo cáo kết quả thanh tra và xây dựng kết luận thanh tra. Theo qui định trước đây, Trưởng đoàn là người kết luận thanh tra, công bố kết luận thanh tra. Luật thanh tra qui định rõ thời hạn và nội dung báo cáo kết quả thanh tra của từng đoàn thanh tra. Nội dung báo cáo kết quả thanh tra phải có nội dung, kết luận cụ thể từng nội dung thanh tra; xác định rõ tính chất, mức độ vi phạm, nguyên nhân,  trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm; nêu ý kiến khác nhau giữa thành viên đoàn thanh tra với trưởng đoàn; các biện pháp xử lý theo thẩm quyền đã được áp dụng và kiến nghị các biện pháp xử lý. Đề cao trách nhiệm của người ra quyết định thanh tra, kết luận nội dung thanh tra với đối tượng thanh tra.
Kết luận thanh tra phải có các nội dung sau đây: đánh giá việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của đối tượng thuộc nội dung thanh tra; kết luận về nội dung được thanh tra; xác định rõ tính chất, mức độ vi phạm, nguyên nhân, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm (nếu có); các biện pháp xử lý theo thẩm quyền đã được áp dụng, kiến nghị các biện pháp xử lý.

b. Hoạt động thanh tra chuyên ngành.
Thanh tra chuyên ngành là hoạt động thanh tra của cơ quan quản lý nhà nước theo ngành, lĩnh vực đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc chấp hành pháp luật, những quy định về chuyên môn - kỹ thuật, quy tắc quản lý chuyên ngành, lĩnh vực thuộc thẩm quyền quản lý nhà nước.
Thanh tra chuyên ngành cũng là một hoạt động thanh tra nhà nước cho nên nó có nét chung giống hoạt động thanh tra hành chính, tuy nhiên nó có những nét đặc thù riêng nên Luật thanh tra đã quy định thành một mục riêng.
- Về hình thức thanh tra: có hai hình thức đó là thanh tra theo chương trình, kế hoạch và thanh tra đột xuất.
- Về thẩm quyền phê duyệt chương trình, kế hoạch thanh tra và quyết định thanh tra: Bộ trưởng, Giám đốc sở có trách nhiệm phê duyệt chương trình, kế hoạch thanh tra chuyên ngành. Chánh thanh tra cùng cấp quyết định việc thanh tra.
- Về quyết định thanh tra: cũng có nội dung như quyết định thanh tra hành chính. Hoạt động thanh tra chuyên ngành do đơn vị thanh tra thực hiện hoặc do chánh thanh tra chuyên ngành tiến hành độc lập. Trong trường hợp đó thì người ra quyết định thanh tra phải xác định rõ phạm vi, nhiệm vụ và thời hạn tiến hành thanh tra.
Để bảo đảm tính đặc thù trong hoạt động thanh tra chuyên ngành, ngoài Chánh thanh tra Bộ, Chánh thanh tra Sở, Bộ trưởng, Giám đốc sở ra quyết định thanh tra,  Luật thanh tra còn xác định Chính phủ quy định người được ra quyết định thanh tra, thành lập đoàn thanh tra và phân công thanh tra viên trong một số ngành, lĩnh vực       ( khoản 2, Điều 47 )
- Về thời hạn thanh tra: Thời hạn thanh tra chuyên ngành ngắn hơn nhiều so với thời hạn thanh tra hành chính. Thời hạn một cuộc thanh tra chuyên ngành được tổ chức theo đoàn không qua 30 ngày,  kể từ ngày công bố quyết định thanh tra đến khi kết thúc việc thanh tra tại nơi được thanh tra. Trong trường hợp cần thiết, người ra quyết định thanh tra có thể ra hạn 1 lần, thời gian gia hạn không quá 30 ngày.
- Nhiệm vụ, quyền hạn của Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành và thanh tra viên chuyên ngành: Về cơ bản nhiệm vụ, quyền hạn của Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành và Thanh tra viên chuyên ngành cũng như đối với thanh tra hành chính. Nhưng do tính chất và đặc điểm của hoạt động này phải tiến hành kịp thời để phát hiện và xử lý ngay những hành vi vi phạm, do vậy ngoài những nhiệm vụ, quyền hạn được quy định như đối với Trưởng đoàn thanh tra, Thanh tra viên hành chính, những người này còn có những nhiệm vụ, quyền hạn: Yêu cầu đối tượng thanh tra xuất trình giấy phép, đăng ký kinh doanh, chứng chỉ hành nghề, lập biên bản về việc vi phạm, xử phạt vi phạm hành chính( xử phạt và áp dụng các biện pháp đình chỉ, chấm dứt các hành vi vi phạm buộc bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do hành vi vi phạm gây ra...)

c.  Về quyền và nghĩa vụ của đối tượng thanh tra: Luật thanh tra bổ sung qui định đầy đủ hơn về quyền và nghĩa vụ của đối tượng thanh tra so với Pháp lệnh thanh tra. Đối tượng có quyền giải trình về những vấn đề có liên quan đến nội dung thanh tra; từ chối cung cấp thông tin, tài liệu có liên quan đến bí mật nhà nước khi pháp luật có qui định và thông tin, tài liệu không liên quan đến nội dung thanh tra; khiếu nại với người ra quyết định thanh tra về quyết định, hành vi của Trưởng đoàn thanh tra, Thanh tra viên, thành viên đoàn thanh tra trong quá trình thanh tra khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật; khiếu nại về kết luận, quyết định xử lý về thanh tra; yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật; cá nhân là đối tượng thanh tra có quyền tố cáo về hành vi vi phạm pháp luật của Thủ trưởng cơ quan thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra, Thanh tra viên và các thành viên khác của đoàn thanh tra.

d.  Về hồ sơ thanh tra, trách nhiệm của cơ quan điều tra: để hoạt động thanh tra có nề nếp, việc tiến hành thanh tra phải được lập thành hồ sơ, hồ sơ thanh tra bao gồm những văn bản, tài liệu liên quan đến việc thu thập, thẩm tra, xác minh, xử lý về thanh tra.
Trong quá trình thanh tra nếu phát hiện có dấu hiệu tội phạm thì người ra quyết định thanh tra phải chuyển hồ sơ cho cơ quan điều tra chậm nhất là 5 ngày, kể từ ngày phát hiện,  đồng thời thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp biết. Cơ quan điều tra có trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ vụ việc do cơ quan thanh tra chuyển sang và phải xử lý theo qui định của pháp luật tố tụng hình sự. Trong thời hạn 20 ngày,  kể từ ngày nhận được hồ sơ, cơ quan điều tra phải thông báo bằng văn bản về việc xử lý cho cơ quan thanh tra; trường hợp vụ việc có nội dung, tình tiết phức tạp thì thời hạn trả lời có thể kéo dài,  nhưng không quá 60 ngày; quá thời hạn này mà cơ quan thanh tra không nhận được thông báo bằng văn bản về việc xử lý của cơ quan điều tra thì có quyền kiến nghị cơ quan điều tra cấp trên và Viện kiểm sát nhân dân cấp trên.

5. Về vai trò trách nhiệm của Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước đối với công tác thanh tra.
Để tăng cường sự lãnh đạo điều hành của cơ quan quản lý nhà nước đối với công tác thanh tra. Luật thanh tra có các qui định nhằm đề cao vai trò và tăng cường trách nhiệm của thủ trưởng các cơ quan quản lý nhà nước trong việc tổ chức, chỉ đạo và chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động thanh tra. Thủ trưởng các cơ quan quản lý nhà nước ngoài việc chỉ đạo, chịu trách nhiệm toàn diện về công tác quản lý của địa phương, bộ ngành còn phải chịu trách nhiệm về tình hình thực hiện pháp luật về thanh tra và hiệu quả công tác thanh tra do mình quản lý. Thủ trưởng có quyền quyết định việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức người đứng đầu cơ quan thanh tra cùng cấp; phê duyệt chương trình, kế hoạch thanh tra, quyết định việc thanh tra; kết luận thanh tra (trong trường hợp ra quyết định thanh tra), xem xét xử lý, kết luận của cơ quan thanh tra.
Điều 44 qui định: trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày có kết luận thanh tra, Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp có trách nhiệm xem xét kết luận thanh tra; xử lý đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân có sai phạm; áp dụng các biện pháp theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng các biện pháp khắc phục, hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật.

6. Về thanh tra viên và cộng tác viên thanh tra.
Luật thanh tra đã giành một mục riêng, mục 3 chương II quy định về thanh tra viên và cộng tác viên thanh tra, kế thừa các quy định còn phù hợp  của Pháp lệnh thanh tra và bổ sung quy định mới đầy đủ và chặt chẽ hơn về nghĩa vụ, trách nhiệm của thanh tra viên, cộng tác viên thanh tra.
Thanh tra viên là công chức nhà nước được bổ nhiệm vào ngạch thanh tra để thực hiện nhiệm vụ thanh tra. Thanh tra viên được cấp trang phục và thẻ thanh tra viên. Người được bổ nhiệm vào ngạch thanh tra  phải có đủ các tiêu chuẩn sau:
- Trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; có phẩm chất, đạo đức tốt, có ý thức trách nhiệm, liêm khiết, trung thực, công minh, khách quan;
- Tốt nghiệp đại học, có kiến thức quản lý nhà nước và kiến thức pháp luật; đối với Thanh tra viên chuyên ngành còn phải có kiến thức chuyên môn về chuyên ngành đó;
- Có nghiệp vụ thanh tra;
- Có ít nhất 02 năm làm công tác thanh tra đối với người mới được tuyển dụng vào ngành thanh tra (không kể thời gian tập sự); nếu là cán bộ,  công chức công tác ở cơ quan, tổ chức khác chuyển sang cơ quan Thanh tra nhà nước thì phải có ít nhất 01 năm làm công tác thanh tra.
Khi tiến hành thanh tra, Thanh tra viên, cộng tác viên thanh tra phải tuân thủ pháp luật, chịu trách nhiệm trước pháp luật về thực hiện nhiệm vụ được giao; Thanh tra viên còn phải chịu trách nhiệm trước Thủ trưởng cơ quan quản lý trực tiếp về nhiệm vụ thanh tra.
Thanh tra viên, cộng tác viên thanh tra có hành vi vi phạm pháp luật thì tuỳ theo tính chất,  mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường hoặc bồi hoàn theo qui định của pháp luật.

7. Về nội dung quản lý nhà nước về công tác thanh tra.
Quản lý nhà nước về công tác thanh tra là nội dung quan trọng đã được qui định trong Pháp lệnh thanh tra và các văn bản hướng dẫn thi hành, đặc biệt là trong Nghị định số 61/1998-NĐ-CP về công tác thanh tra, kiểm tra đối với doanh nghiệp, trong đó vai trò của các cơ quan thanh tra nhà nước đã được qui định khá rõ trong việc thực hiện nhiệm vụ này. Luật thanh tra tiếp tục khẳng định và bổ sung các qui định để làm rõ và đầy đủ hơn nội dung quản lý nhà nước về công tác thanh tra. Tuy không được điều chỉnh thành một chương riêng, nhưng nội dung này được thể hiện trong việc qui định quyền hạn, nhiệm vụ cụ thể của các cơ quan thanh tra, người đứng đầu cơ quan thanh tra. Người đứng đầu cơ quan thanh tra lãnh đạo, chỉ đạo công tác thanh tra trong phạm vi quản lý nhà nước của Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp. Điều đó có nghĩa là người đứng đầu cơ quan thanh tra giúp Thủ trưởng cùng cấp, chỉ đạo Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cấp dưới thực hiện nhiệm vụ tổ chức và hoạt động thanh tra theo quy định của pháp luật. Đồng thời chỉ đạo, hướng dẫn về công tác tổ chức, nghiệp vụ cho cơ quan thanh tra cấp dưới. Có quyền thanh tra các cấp, các ngành thực hiện pháp luật về thanh tra, khiếu nại, tố cáo, phòng ngừa và đấu tranh chống tham nhũng.

 8. Về thanh tra nhân dân.
Qua hơn 10 năm tổ chức và hoạt động, các Ban thanh tra nhân dân đã được thành lập rộng khắp ở các cơ quan, tổ chức, đơn vị, ở xã phường, thị trấn. Hoạt động của các Ban thanh tra nhân dân đã khẳng định vai trò to lớn trong việc thực hiện quyền giám sát của nhân dân ở cơ sở. Thanh tra nhân dân là hình thức tổ chức giám sát trực tiếp của nhân dân, thể hiện phương châm dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra và quan điểm của Đảng về xây dựng nhà nước của dân, do dân và vì dân. Hoạt động của các Ban thanh tra nhân dân đã góp phần tích cực vào thực hiện chính sách, pháp luật và quy chế dân chủ ở cơ sở, giải quyết khiếu nại, tố cáo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, phòng ngừa tham nhũng, tiêu cực, ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật. Chính vì Ban thanh tra nhân dân có vai trò quan trọng như vậy nên Luật thanh tra đã giành Chương IV quy định về tổ chức và hoạt động của Thanh tra nhân dân, trên cơ sở kế thừa ưu điểm của Pháp lệnh thanh tra năm 1990 có bổ sung các qui định cụ thể hóa tổ chức và hoạt động thanh tra nhân dân trong văn bản pháp luật có tính pháp lý cao. Điều 59  ghi rõ: "Ban thanh tra nhân dân giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo; việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở của cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm ở xã, phường, thị trấn, cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp nhà nước".
Trong quá trình thực hiện việc giám sát,  khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật thì Ban thanh tra nhân có quyền kiến nghị với người có thẩm quyền để xử lý theo qui định của pháp luật và giám sát việc thực hiện kiến nghị đó. Khi cần thiết, Ban thanh tra nhân dân được Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn, người đứng đầu cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp nhà nước giao xác minh những vụ việc nhất định. Ban thanh tra nhân dân có quyền kiến nghị với Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn, người đứng đầu cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp nhà nước khắc phục sơ hở, thiếu sót được phát hiện qua việc giám sát, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, người lao động, biểu dương những đơn vị, cá nhân có thành tích. Trong trường hợp phát hiện người có hành vi vi phạm pháp luật thì kiến nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xem xét,  xử lý.
Ban thanh tra nhân dân ở xã, phường, thị trấn do Hội nghị nhân hoặc Hội nghị đại biểu nhân dân thôn, làng, ấp, bản, tổ dân phố bầu. Ban thanh tra nhân dân ở cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp nhà nước do Hội nghị công nhân, viên chức hoặc Hội nghị đại biểu công nhân, viên chức bầu. Ban thanh tra nhân dân do Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt nam cùng cấp hoặc Ban chấp hành Công đoàn cơ sở trực tiếp chỉ đạo hoạt động. Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn, người đứng đầu cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để Ban thanh tra nhân dân hoàn thành nhiệm vụ; được hỗ trợ kinh phí, phương tiện để hoạt động. Trên cơ sở qui định của Luật này,  Quốc hội đã giao cho Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt nam, Tổng Liên đoàn lao động Việt nam phối hợp với Chính phủ hướng dẫn cụ thể về tổ chức và hoạt động của các Ban thanh tra nhân dân.

V. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

Luật thanh tra được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 15 tháng 6 năm 2004 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 10 năm 2004. Để Luật được thực hiện tốt trong cuộc sống, trước mắt cần tập trung một số công việc sau đây: 

1. Tổ chức tuyên truyền, hướng dẫn, tập huấn giới thiệu Luật thanh tra 
Tổ chức tuyên truyền, hướng dẫn, tập huấn giới thiệu Luật cho tất cả đối tượng có liên quan, bao gồm các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân các cấp và lực lượng thanh tra viên về những nội dung quy định trong Luật, nhất là những nội dung quy định mới so với Pháp lệnh thanh tra năm 1990 tạo sự thống nhất chung về nhận thức giữa đối tượng thực hiện, tuân thủ pháp luật với người thực hiện áp dụng pháp luật theo thẩm quyền.

2. Xây dựng và ban hành văn bản hướng dẫn thực hiện Luật thanh tra
- Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật thanh tra;
- Nghị định của Chính phủ quy định về tổ chức và hoạt động của thanh tra Chính phủ.
- Văn bản của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt nam, Tổng Liên đoàn lao động Việt nam phối hợp với Chính phủ hướng dẫn cụ thể về tổ chức và hoạt động của các Ban thanh tra nhân dân.

3. Phối hợp với các phương tiện thông tin đại chúng đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, phổ biến nội dung của Luật một cách sâu rộng đến với mọi tầng lớp nhân dân. 

Lĩnh vực : Tổ chức nhà nước
Toàn văn luật đã ban hành : Xem chi tiết
 
Luật Việt
Các tin tiếp
Luật An ninh quốc gia    (16/2/2008)
Luật Chứng khoán    (16/2/2008)
Luật Dược    (16/2/2008)
Các tin trước
Luật Cư trú    (15/2/2008)
Pháp lệnh Thú y    (15/2/2008)
Luật Đường sắt    (15/2/2008)
Luật Cạnh tranh    (15/2/2008)
Luật Giáo dục    (15/2/2008)
Luật Đê điều    (15/2/2008)