Luật sửa đổi, bổ sung Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và luật thuế giá trị gia tăng
19:19' 16/2/2008
Căn cứ tình hình thực tế của nền kinh tế cũng như yêu cầu phải đẩy nhanh tiến độ gia nhập WTO, việc Chính phủ trình Quốc hội sửa một số điểm trong Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế giá trị gia tăng  nhằm bảo đảm phù hợp giữa nội Luật với nguyên tắc của WTO là cần thiết. Ngày 29/11/2005, Quốc hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật thuế giá trị gia tăng và ngày 09/12/2005, Chủ tịch nước đã ký lệnh số 25/2005/L/CTN công bố Luật...


I. Sự cần thiết phải sửa đổi, bổ sung Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và luật thuế giá trị gia tăng
 
Qua gần 2 năm thực hiện Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật thuế giá trị gia tăng (2 luật này đã được Quốc hội khoá XI sửa đổi, bổ sung tại kỳ họp thứ 3, tháng 6 năm 2003 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2004), nhìn chung những nội dung sửa đổi, bổ sung Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật thuế giá trị gia tăng về cơ bản là phù hợp với tình hình thực tế nên đã phát huy tác dụng tích cực, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, khuyến khích xuất khẩu và định hướng tiêu dùng.
 
Mặc dù tại Điều 29 Luật thuế giá trị gia tăng và Điều 27 Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt đã quy định: Trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác với Luật thuế tiêu thụ đặc biệt  và Luật thuế giá trị gia tăng thì thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế giá trị gia tăng được thực hiện theo những quy định tại điều ước quốc tế đó. Nội dung này đã thể hiện cam kết thực hiện các nguyên tắc của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) là không phân biệt đối xử khi Việt Nam gia nhập WTO. Tuy nhiên, để tranh thủ khoảng thời gian khi Việt Nam chưa gia nhập WTO, luật hiện hành vẫn quy định thuế suất khác nhau giữa một số mặt hàng nhập khẩu và mặt hàng sản xuất trong nước gồm: ô tô, bia, thuốc lá điếu, bông, sản phẩm nông hải sản nuôi trồng, đánh bắt chưa qua chế biến hoặc chỉ qua sơ chế thông thường của tổ chức, cá nhân tự sản xuất, đánh bắt bán ra.
 
Căn cứ tình hình thực tế của nền kinh tế cũng như yêu cầu phải đẩy nhanh tiến độ gia nhập WTO, việc Chính phủ trình Quốc hội sửa một số điểm trong Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế giá trị gia tăng  nhằm bảo đảm phù hợp giữa nội Luật với nguyên tắc của WTO là cần thiết. Ngày 29/11/2005, Quốc hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật thuế giá trị gia tăng và ngày 09/12/2005, Chủ tịch nước đã ký lệnh số 25/2005/L/CTN công bố Luật.
 
II. Quan điểm chỉ đạo xây dựng luật
 
Việc sửa đổi, bổ sung lần này ngoài việc phải bảo đảm không còn phân biệt đối xử về thuế giữa hàng sản xuất trong nước và hàng nhập khẩu, còn phải bảo đảm không làm ảnh hưởng lớn đến sản xuất, kinh doanh và môi trường đầu tư trong nước, không ảnh hưởng lớn đến số thu của ngân sách nhà nước.
 
III. Nội dung chủ yếu của Luật 
 
1. Khái quát chung
 
Luật này sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt ngày 20/5/1998 đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt ngày 17/6/2003 (sau đây gọi là luật năm 1998) và Luật thuế giá trị gia tăng ngày 10/5/1997 đã được sửa đổi bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế gia trị gia tăng ngày 17/6/2003 (sau đây gọi là luật năm 1997).  Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật thuế giá trị gia tăng là Luật tiên phong áp dụng “phương pháp” một luật sửa nhiều luật. Với những nội dung được sửa đổi, bổ sung chỉ liên quan đến thuế suất của 3 loại hàng hoá cần quy định cho phù hợp với nguyên tắc đối xử quốc gia của WTO, việc sử dụng phương pháp này đã khắc phục được những mặt hạn chế của việc sửa tuần tự từng luật cụ thể, rút ngắn được thời gian soạn thảo và trình ký ban hành, giảm thiểu sự chồng chéo, mâu thuẫn của các văn bản luật khi có sự sửa đổi, bổ sung. Với “phương pháp” này, có thể dùng để thay thế hoàn toàn cách sửa từng luật một như hiện nay khi những vấn đề hay nội dung cần sửa đổi, bổ sung có tính chất giống nhau hoặc có tính liên ngành.
 
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật thuế giá trị gia tăng gồm 4 điều, cụ thể như sau:
 
- Điều 1, quy định những nội dung sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt (Khoản 6 Điều 6 quy định về giá tính thuế; Điều 7 quy định về thuế suất và Điều 16 quy định về những trường hợp được xét giảm thuế, miễn thuế tiêu thụ đặc biệt).
 
- Điều 2, quy định những nội dung sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế giá trị gia tăng (Khoản 1 Điều 4 quy định về đối tượng không thuộc diện chịu thuế giá trị gia tăng; Điều 8 quy định về thuế suất).
 
- Điều 3Điều 4, quy định về hiệu lực thi hành của luật (từ ngày 01/1/2006) và quy định trách nhiệm của Chính phủ trong việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành luật.
 
2. Về những nội dung sửa đổi, bổ sung Luật thuế tiêu thụ đặc biệt
         
2.1. Giá tính thuế
Khoản 1 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật thuế giá trị gia tăng quy định về sửa khoản 6, Điều 6 Luật năm 1998 như sau:
 
"1. Khoản 6 Điều 6 được sửa đổi, bổ sung như sau:
Điều 6. Giá tính thuế
...
6. Đối với rượu, bia, kinh doanh ca-si-nô, trò chơi bằng máy giắc-pót, kinh doanh gôn, giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt do Chính phủ quy định cụ thể.
Giá tính thuế TTĐB đối với hàng hóa, dịch vụ quy định tại Điều này bao gồm cả khoản thu thêm mà cơ sở kinh doanh được hưởng.
Trường hợp đối tượng nộp thuế có doanh số mua, bán bằng ngoại tệ thì phải quy đổi ngoại tệ ra đồng Việt Nam theo tỷ giá hối đoái do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm phát sinh doanh số để xác định giá tính thuế.”
 
Về giá của hàng hoá, dịch vụ để tính thuế tiêu thụ đặc biệt, tại Khoản 6 Điều 6 Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt năm 1998 quy định: “Đối với rượu, bia sản xuất trong nước, kinh doanh ca-si-nô, trò chơi bằng máy giắc-pót, kinh doanh gôn, giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt do Chính phủ quy định cụ thể.”Quy định này là có sự phân biệt đối xử đối với rượu, bia nhập khẩu với rượu, bia được sản xuất trong nước khi trao quyền cho Chính phủ quy định cụ thể giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt đối với riêng mặt hàng là rượu, bia được sản xuất trong nước. Để thực hiện nguyên tắc đối xử quốc gia của WTO, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật thuế gia trị gia tăng đã bỏ cụm từ “sản xuất trong nước”.
 
2.2. Thuế suất
 
Khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật thuế giá trị gia tăng  quy định như sau:
 
“2. Điều 7 được sửa đổi, bổ sung như sau:
Điều 7. Thuế suất
Thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt đối với hàng hoá, dịch vụ được quy định theo Biểu thuế tiêu thụ đặc biệt sau đây:
 
 
BIỂU THUẾ TIÊU THỤ ĐẶC BIỆT


STT

Hàng hoá, dịch vụ

Thuế suất  (%)

I -

Hàng hoá

 

1.

Thuốc lá điếu, xì gà

 

 

a) Xì gà

65

 

b) Thuốc lá điếu

 

 

- Năm 2006-2007

55

 

- Từ năm 2008

65

2.

Rượu

 

 

a) Rượu từ 40 độ trở lên

65

 

b) Rượu từ 20 độ đến dưới 40 độ

30

 

c) Rượu dưới 20 độ, rượu hoa quả, rượu thuốc

20

3.

Bia

 

 

a) Bia chai, bia hộp

75

 

b) Bia hơi, bia tươi

 

 

- Năm 2006-2007

30

 

- Từ năm 2008

40

4.

Ô tô

 

 

a) Ô tô từ 5 chỗ ngồi trở xuống

50

 

b) Ô tô từ 6 đến 15 chỗ ngồi

30

 

c) Ô tô từ 16 đến dưới 24 chỗ ngồi

15

5.

Xăng các loại, nap-ta (naptha), chế phẩm tái hợp và các chế phẩm khác dùng để pha chế xăng

 
10

6.

Điều hoà nhiệt độ công suất từ  90.000 BTU trở xuống

15

7.

Bài lá

40

8.

Vàng mã, hàng mã

70

II -

Dịch vụ

 

1.

Kinh doanh vũ trường, mát-xa, ka-ra-ô-kê

30

2.

Kinh doanh ca-si-nô, trò chơi bằng máy giắc-pót

25

3.

Kinh doanh giải trí có đặt cược

25

4.

Kinh doanh gôn: bán thẻ hội viên, vé chơi gôn

10

5.

Kinh doanh xổ số

15

 
Theo quy định trên, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và luật thuế giá trị gia tăng đã sửa các quy định về thuế suất đối với một số mặt hàng còn có sự phân biệt đối xử giữa hàng sản xuất trong nước và hàng nhập khẩu. Việc sửa đổi này ngoài việc xoá bỏ sự phân biệt trên còn là sự bảo đảm cho Việt Nam gia nhập WTO. Thuế suất các nhóm hàng được sửa đổi gồm: thuốc lá, ô tô, rượu, bia hơi và bia tươi, bông sơ chế, cụ thể như sau:
 
a. Đối với mặt hàng thuốc lá điếu: Luật năm 1998 quy định 3 mức thuế suất khác nhau đối với thuốc lá: 65% đối với thuốc lá điếu có đầu lọc sản xuất chủ yếu bằng nguyên liệu nhập khẩu; 45% đối với thuốc lá điếu có đầu lọc sản xuất chủ yếu bằng nguyên liệu sản xuất trong nước; 25% đối với thuốc lá không đầu lọc. Quy định này đã tạo sự phân biệt về thuế suất đối với thuốc lá sản xuất bằng nguyên liệu trong nước hay nguyên liệu nhập khẩu, vi phạm nguyên tắc đối xử quốc gia của WTO. Để khắc phục nhược điểm này, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật thuế giá trị gia tăng đã quy định mức thuế suất thống nhất đối với các loại thuốc lá và được thực hiện theo lộ trình là: từ năm 2006-2007 mức thuế suất là 55%;  từ năm 2008 mức thuế suất là 65%.
 
Việc thống nhất một mức thuế suất và nâng dần theo lộ trình 2 bước như trên, một mặt nhằm hạn chế tiêu dùng thuốc lá là mặt hàng không có lợi cho sức khoẻ, mặt khác tạo điều kiện cho các doanh nghiệp sản xuất thuốc lá từ nguyên liệu trong nước có thời gian sắp xếp, chuyển đổi sản xuất nhằm hạn chế tới mức thấp nhất ảnh hưởng tiêu cực đến việc làm của hơn 200.000 người trồng thuốc lá cũng như người lao động trong các doanh nghiệp sản xuất thuốc lá từ nguyên liệu trong nước.
 
b. Đối với mặt hàng ô tô: Luật năm 1998 quy định thuế suất đối với 3 loại xe ô tô từ 5 chỗ ngồi trở xuống, từ 6 đến 15 chỗ ngồi, từ 16 đến dưới 24 chỗ ngồi thứ tự như sau:
 
- Đối với ô tô nhập khẩu: 80%, 50%, 25%;
 
- Đối với ô tô sản xuất, lắp ráp trong nước thuế suất tăng dần theo lịch trình:
+ Năm 2004, thuế suất 24%, 15% và 7,5%;
+ Năm 2005, thuế suất 40%, 25% và 12,5%;
+ Năm 2006, thuế suất 56%, 35% và 17,5%;
+ Năm 2007 nộp theo thuế suất 80%, 50%, 25% như ô tô nhập khẩu.
 
Căn cứ vào tiến trình gia nhập WTO của Việt Nam và tình hình sản xuất ô tô trong nước, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật thuế giá trị gia tăng đã sửa quy định trên, theo đó quy định thống nhất một mức thuế suất là:
 
- Ô tô từ 5 chỗ ngồi trở xuống:       50%
 
- Ô tô từ 6 đến 15 chỗ ngồi:            30%
 
- Ô tô từ 16 đến dưới 24 chỗ ngồi:  15%
 
Mức thuế suất này một mặt xoá bỏ sự phân biệt đối xử về thuế đối với ô tô sản xuất, lắp ráp trong nước với ô tô nhập khẩu; mặt khác cũng tạo điều kiện hỗ trợ cho ngành công nghiệp ô tô trong nước vì thuế suất mới thấp hơn so với thuế suất được quy định trong luật năm 1998 (theo lộ trình tăng thuế suất, trong năm 2006 thuế suất đối với ô tô sản xuất, lắp ráp trong nước là 56%; 35%; 17,5%). Ngoài ra, với mức thuế suất nêu trên, ô tô sản xuất trong nước tuy có chịu mức thuế suất cao hơn năm 2005 (tăng 10%, 5% và 2,5%) nhưng sẽ tạo được áp lực cho các doanh nghiệp sản xuất ô tô trong nước không thể điều chỉnh tăng giá tương ứng vì phải tính đến yếu tố cạnh tranh với ô tô nhập khẩu, ô tô nhập khẩu sẽ giảm giá do giảm thuế suất khá nhiều (giảm 30%, 20%, 10%).
 
c. Đối với mặt hàng bia hơi, bia tươi: Luật năm 1998 quy định 2 mức thuế suất khác nhau đối với bia hơi và bia tươi, cụ thể bia hơi là 30%, bia tươi là 75%. Trong quá trình đàm phán các nước đều cho rằng 2 loại bia này giống nhau, trong khi bia hơi được sản xuất hoàn toàn trong nước thì một số lượng bia tươi hiện được nhập khẩu từ nước ngoài. Vì vậy, việc quy định thuế suất khác nhau giữa bia hơi và bia tươi là có sự phân biệt đối xử giữa bia trong nước và bia nhập khẩu.
 
Để phù hợp với nguyên tắc đối xử quốc gia của WTO, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật thuế giá trị gia tăng đã quy định một mức thuế suất thống nhất cho cả bia hơi, bia tươi và được thực hiện theo lịch trình cụ thể như sau: Năm 2006-2007 thuế suất 30%; Từ năm 2008 thuế suất 40%. Với mức thuế suất này, ngoài việc đảm bảo thực hiện được nguyên tắc đối xử quốc gia của WTO vẫn giữ được sự ổn định của các doanh nghiệp sản xuất bia trong nước và có thêm thời gian để sắp xếp sản xuất nâng cao chất lượng đủ sức để cạnh tranh trên thị trường.
 
d. Đối với mặt hàng rượu: Luật năm 1998 quy định rượu có nồng độ cồn từ 40 độ trở lên thuộc nhóm thuế suất 75%; rượu từ 20 độ đến dưới 40 độ thuộc nhóm thuế suất 30%; rượu dưới 20 độ, rượu hoa quả thuộc nhóm thuế suất 20%; rượu thuốc 15%. Quy định này trong thực tế thể hiện là có sự phân biệt đối xử vì các loại rượu có nồng độ cồn từ 20 độ đến dưới 40 độ được sản xuất ở trong nước là chủ yếu, đang áp dụng thuế suất thấp 30%. Trong khi đó rượu mạnh từ 40 độ trở lên chủ yếu là nhập khẩu, thuộc diện áp dụng thuế suất cao 75%; Mặt khác, khoảng cách chênh lệch giữa mức thuế suất tối đa và tối thiểu là quá lớn (5 lần), dễ xảy ra gian lận thương mại không phù hợp với các quy tắc của WTO. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật thuế giá trị gia tăng đã sửa đổi thuế suất đối với mặt hàng này theo nguyên tắc giảm thuế suất tối đa xuống còn 65% và nâng thuế suất tối thiểu lên 20% để đảm bảo vừa thu hẹp chênh lệch giữa các mức thuế suất, vừa giảm chênh lệch giữa mức thuế suất tối đa và tối thiểu xuống còn hơn 3 lần. Cụ thể thuế suất đối với mặt hàng rượu được quy định là:
 
- Rượu từ 40 độ trở lên: 65%
 
- Rượu từ 20 độ đến dưới 40 độ: 30%
 
- Rượu dưới 20 độ, rượu hoa quả, rượu thuốc: 20%.
 
2. Về những nội dung sửa đổi, bổ sung Luật thuế GTGT
 
2.1. Đối với sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ sản, hải sản nuôi trồng, đánh bắt chưa qua chế biến hoặc chỉ qua sơ chế thông thường
 
Về quy định này, tại Khoản 1 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế gia trị gia tăng năm 2003 quy định sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ sản, hải sản nuôi trồng, đánh bắt chưa qua chế biến hoặc chỉ qua sơ chế thông thường của tổ chức, cá nhân tự sản xuất, đánh bắt bán ra là đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng. Trong khi đó các sản phẩm tương tự ở khâu nhập khẩu vẫn chịu thuế giá trị gia tăng. Quy định này nhằm khuyến khích tiêu thụ các sản phẩm của nông dân, ngư dân tự sản xuất đánh bắt bán ra, nhưng lại có sự phân biệt đối xử giữa sản phẩm nông, hải sản chưa qua chế biến với các sản phẩm tương tự ở khâu nhập khẩu. Để phù hợp nguyên tắc không phân biệt đối xử của WTO, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật thuế giá trị gia tăng đã bổ sung sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ sản, hải sản nuôi trồng, đánh bắt chưa qua chế biến hoặc chỉ qua sơ chế thông thường ở khâu nhập khẩu vào đối tượng không chịu thuế. Trên cơ sở đó, Khoản 1 Điều 2 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật thuế giá trị gia tăng quy định như sau:
"1. Khoản 1 Điều 4 được sửa đổi, bổ sung như sau:
Điều 4. Đối tượng không thuộc diện chịu thuế giá trị gia tăng
Hàng hoá, dịch vụ dưới đây không thuộc diện chịu thuế giá trị gia tăng:
1. Sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ sản, hải sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc mới sơ chế thông thường của các tổ chức, cá nhân tự sản xuất, trực tiếp đánh bắt bán ra và ở khâu nhập khẩu."
 
Việc sửa đổi như trên không có nghĩa là bỏ không thu thuế đối với hàng nông, hải sản nhập khẩu, mà chỉ áp dụng không thu thuế hàng nông, hải sản ở khâu nhập khẩu. Ở các khâu sản xuất kinh doanh tiếp theo, nhóm mặt hàng này vẫn thuộc diện chịu thuế giá trị gia tăng.
 
2.2. Đối với mặt hàng bông sơ chế
 
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế giá trị gia tăng năm 2003 quy định thuế suất đối với bông sơ chế từ bông trồng trong nước là 5%, bông sơ chế nhập khẩu là 10%. Quy định này nhằm khuyến khích tiêu thụ sản phẩm bông của nông dân, khuyến khích nông dân trồng bông nhiều hơn để thay thế hàng nhập khẩu. Như vậy là đã có sự phân biệt đối xử về thuế suất giữa bông trồng trong nước và bông nhập khẩu. Để phù hợp với nguyên tắc không phân biệt đối xử của WTO, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật thuế giá trị gia tăng đã quy định một mức thuế suất chung là 5% áp dụng cho bông sơ chế (không phân biệt bông sản xuất trong nước hay bông nhập khẩu). Với thuế suất này, ngoài việc tuân thủ nguyên tắc không phân biệt đối xử của WTO còn đảm bảo không gây tác động lớn đến người trồng bông trong nước. Trên cơ sở đó, Khoản 2 Điều 2 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật thuế giá trị gia tăng đã quy định như sau:
 
“2 . Điểm k khoản 2 Điều 8 đã được sửa thành điểm ℓ khoản 2 Điều 8 theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế giá trị gia tăng ngày 17 tháng 6 năm 2003 được sửa đổi, bổ sung như sau:
Điều 8. Thuế suất
...
2. Mức thuế suất 5 % đối với hàng hoá, dịch vụ:
...
ℓ) Bông sơ chế;
...
 
IV. Tổ chức thực hiện
 
Để Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật thuế giá trị gia tăng được triển khai thực hiện từ ngày 01/01/2006 (theo quy định tại Điều 3), việc soạn thảo, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để hướng dẫn thi hành luật đã đảm bảo đúng tiến độ, kế hoạch, cụ thể là:
 
- Ngày 15/12/2005 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 156/2005/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung các Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật Thuế giá trị gia tăng
 
- Ngày 16/12/2005, Bộ Tài chính đã ban hanh Thông tư số 115/2005/TT-BTC Hướng dẫn thi hành Nghị định số 156/2005/NĐ-CP ngày 15/12/2005 sửa đổi, bổ sung các Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật Thuế giá trị gia tăng

Loại văn bản : Luật
Lĩnh vực : Tài chính
Toàn văn luật đã ban hành : Xem chi tiết

Luật Việt
Các tin tiếp
Luật Đầu tư    (16/2/2008)
Luật Thanh niên    (16/2/2008)
Luật Công an nhân dân    (16/2/2008)
Các tin trước
Luật Dược    (16/2/2008)
Luật Chứng khoán    (16/2/2008)